|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/HS-ST Ngày: 04 - 3 -2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ninh Thị Khánh Tân
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Ngọc Tuyên
2. Bà Nguyễn Thị Loan
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh – Thư ký TAND thành phố Thanh Hóa.
Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thúy N - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 80/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 12 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:122/2025/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:
- Họ và tên: Phạm Dũng T - Sinh ngày: 19/9/2003 tại Hải Dương; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Số thẻ CCCD: [...]; Nơi thường trú và chỗ ở: Thôn T, xã Đ, huyện G, tỉnh Hải Dương; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Phạm Văn T1 và bà Nguyễn Thị T2; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/10/2024 đến ngày 23/10/2024 chuyển tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T. (có mặt)
- Họ và tên: Nguyễn Sỹ D - Sinh ngày: 02/11/2005; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; số thẻ CCCD: [...]; Nơi thường trú và chỗ ở: Tổ dân phố X, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 06/12; Tôn giáo: Không Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Nguyễn Sỹ L và bà: Nguyễn Thị L1; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba. Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/10/2024 đến ngày 22/10/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. (Có mặt).
+ Bị hại: Ông Nguyễn Duy D1, sinh năm 1999 (vắng mặt)
Địa chỉ: Phố E, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa
+ Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Hữu Q, sinh năm 1074 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP X, phường Q, Thành phố S
- Bà Đỗ Thị D2, sinh năm 1972 (vắng mặt)
Địa chỉ: TDP K, phường Q, thành phố S
- Công ty TNHH D3 (vắng mặt)
Địa chỉ: Lô F Phố T, phường Đ, thành phố T
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do trước đây Phạm Dũng T từng làm việc tại công ty G, thuộc khu công nghiệp L, phường Q, thành phố T có nhặt được một vé bảo vệ chỉ kiểm soát xe ra vào bằng cách phát vé gửi xe cho xe vào, khi xe ra thì chỉ cần đưa vé xe, không kiểm tra đối chiếu giữa số ghi trên vé và số ghi trên đầu xe, nên đến ngày 14/10/2024, T tìm thấy vé gửi xe trong túi áo nên đã nảy sinh ý định và bàn bạc với D đi trộm cắp xe máy.
Khoảng 06 giờ 00 phút ngày 15/10/2024, T điều khiển xe mô tô BKS 36K1 - 5998 chở D từ nhà đến công ty G, khi đến gần cổng công ty thì T dừng xe, bảo D đứng ngoài đợi, T một mình đi bộ vào bãi gửi xe. Sau khi quan sát một lúc, T lén lút dắt xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 36B8-07510 của anh Nguyễn Duy D1 ra ngoài, khi đến cổng bảo vệ T dùng vé xe đưa cho bảo vệ và dắt xe ra chỗ D đúng đợi. D điều khiển chiếc xe BKS 36K1- 5998 và dùng chân đẩy chiếc xe vừa trộm cắp được do T điều khiển đi theo đường Đ đến cây xăng phường Q, thành phố S thì T đi xe máy giải quyết việc cá nhân, còn D dắt xe trộm cắp về nhà. Trên đường về, D dùng tuavit chuẩn bị sẵn để tháo biển số xe và yếm xe vứt lại tại cánh đồng thuộc phố K,, phường Q, thành phố S.
Chiều ngày 15/10/2024, D dắt xe sang cửa hàng sửa chữa xe máy của ông Nguyễn Hữu Q và nói đây là xe của mình bị hỏng nên muốn tháo lốc máy và ống bô xe độ vào chiếc xe khác ở nhà. Ông Q đồng ý, sau khi tháo xong D bán lại cho ông Q một số bộ phận không dùng đến của xe với giá 700.000 đồng, ông Q đưa cho D 400.000 đồng, nợ 300.000 đồng. D cầm tiền rồi mang lốc máy và ống bô xe về nhà.
Đến trưa ngày 16/10/2024, D nhờ Nguyễn Minh N1 chở D đi bán lốc máy và ống bô xe tại cửa hàng mua bán phế liệu của chị Đỗ Thị D2 với giá 230.000 đồng. Sau đó D chia cho T 330.000 đồng, cả hai đã tiêu xài hết số tiền bán xe.
Ngày 16/10/2024, Phạm Dũng T và Nguyễn Sỹ D đến Công an thành phố T đầu thú, khai nhận hành vi phạm tội.
Kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 18/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản ủy ban nhân dân thành phố T định giá chiếc xe máy Honda Wave Alpha, BKS: 36B8-07510 của anh Nguyễn Duy D1 tại thời điểm bị trộm cắp có giá trị là 14.000.000₫ (Mười bốn triệu đồng) .
Kết luận giám định số 4032/KL-KTHS ngày 25/10/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận:
- Vị trí đóng hàng số máy của động cơ đã bị tẩy xóa. Số máy nguyên thủy là: ?2131586. Vị trí dấu ? là những ký tự không xác định được.
- Không xác định được thời gian số máy bị mài mòn.
So sánh số máy nguyên thủy phục hồi được phù hợp với số máy trên giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô BKS 36B8 – 075.10
* Về vật chứng vụ án:
Ngày 16/10/2024, ông Nguyễn Hữu Q đã giao nộp cho Cơ quan Công an một số bộ phận của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, BKS: 36B8- 075.10 mà D đã bán cho ông Q, bao gồm:01 yên xe màu đen đã qua sử dụng, 01 ốp sườn màu đen trắng làm bằng nhựa, bên ngoài ghi dòng chữ Wave Alpha, 01 ổ khóa màu đen làm bằng nhựa, 01 dè trước màu trắng làm bằng nhựa, 01 dè sau màu đen làm bằng nhựa, 01 cụm đền sau làm bằng nhựa màu đỏ trắng, 01 bộ đầu đèn mặt nạ tay lái dây phanh của xe máy có nhựa màu trắng, 01 bầu lọc gió màu đen làm bằng nhựa, 01 ca xăng làm bằng kim loại, 01 tay xách sau màu đen, làm bằng nhựa, 01 ổ khóa làm bằng nhựa và kim loại, 01 cần khởi động máy bằng kim loại, 01 xích tải làm bằng kim loại đã qua sử dụng, 01 hộp xích làm bằng kim loại màu đen, 01 ba chạc giảm sóc trước, 02 bộ vành bánh, 02 giảm xóc sau, 01 bị bát phanh trước sau, 01 càng sau làm bằng kim loại, 01 bộ khung xe làm bằng kim loại có số RLHJA3923MY015588, 01 ắc quy đã qua sử dụng.
Ngày 17/10/2024, chị Đỗ Thị D2 đã giao nộp cho Cơ quan Công an một số bộ phận của chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 36B8-07510 mà D đã bán cho chị D2, bao gồm: 01 cục máy xe mô tô, mặt lốc máy có dòng chữ “HONDA”, vị trí số máy đã mờ một số; 01 ống bô xe mô tô có ký hiệu “Honda K89V2.CAT GOSHI” trên bề mặt.
Ngày 17/10/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T đã tiến hành truy tìm 01 bộ cánh yếm trước, 01 biển số của xe mô tô 36B8 – 075.10 và 01 tuavit màu đen, kết quả: Tìm được 01 bộ cánh yếm màu sơn trắng tại ruộng thuộc phố K, phường Q, thành phố S; không tìm thấy tuavit và biển số xe 36B8 - 075.10.
Đối với 01 USB Kingston màu đỏ bên trong chứa dữ liệu camera thu được tại Công ty G, Cơ quan CSĐT Công an thành phố T chuyển kèm theo hồ sơ vụ án.
* Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra trả lại 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS: 36B8- 07510 cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Duy D1.
Đối với chiếc xe mô tô BKS 36K1 – 5998 mà D và T dùng để đi trộm cắp: Qua điều tra xác định được chủ sở hữa hợp pháp là chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố X, phường Q, thành phố S là mẹ của D. Chị L1 không biết việc T và D sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Nguyễn Thị L1
*Về trách nhiệm dân sự:
Gia đình D đã trả lại số tiền 400.000 đồng cho ông Nguyễn Hữu Q. Ông Q và chị Đỗ Thị D2 không có yêu cầu đề nghị gì về dân sự.
Cáo trạng số 18/CT-VKSTP ngày 27 tháng 12 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa truy tố các bị cáo Phạm Dũng Trường và Nguyễn Sỹ Duy về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa, các bị cáo Phạm Dũng T và Nguyễn Sỹ D đã khai nhận toàn bộ hành vi đúng như nêu trên, phù hợp với lời khai của bị hại và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; (Điều 38 đối với bị cáo T và Điều 65 đối với bị cáo D) của Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo Phạm Dũng T và Nguyễn Sỹ D phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị mức hình phạt đối với các bị cáo:
- Phạm Dũng T từ 09 tháng đến 12 tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/10/2024
- Nguyễn Sỹ D từ 09 – 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời hạn thử thách là 18 đến 24 tháng.
Về trách nhiệm dân sự: Xe là tài sản phạm tội đã trả lại cho bị hại Nguyễn Duy D1. Gia đình D đã trả lại số tiền 400.000đ cho ông Nguyễn Hữu Q. Ông Q và chị D2 không yêu cầu gì về dân sự nên cần chấp nhận sự thỏa thuận.
Về án phí: Buộc các bị cáo mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST
Các bị cáo không có tranh luận gì với luận tội của Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, các bị cáo hối hận về hành vi đã thực hiện, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự để bị cáo được nhanh chóng trở về hòa nhập với xã hội, gia đình, có cơ hội rèn luyện bản thân trở thành người công dân có ích.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên kết quả xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa hôm nay có đủ cơ sở kết luận:
Vào khoảng 06 giờ ngày 15/10/2024 lợi dụng sơ hở trong việc kiểm soát xe ra vào tại bãi gửi xe công ty G, khu công nghiệp L, phường Q, thành phố T, Phạm Dũng T cùng Nguyễn Sỹ D đã trộm cắp 01 mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha BKS 36B8 – 07510 của anh Nguyễn Duy D1 có giá trị 14.000.000đ. Do vậy hành vi của các bị cáo Phạm Dũng T và Nguyễn Sỹ D đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng và quan điểm luận tội của Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác một cách trái pháp luật, gây mất an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo tuy có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, đủ sức khỏe nhưng không chịu lao động, tu dưỡng bản thân mà lại ham chơi, hám lợi, tham lam, dù nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn nhiều lần thực hiện, nên cần phải được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính chất phòng ngừa chung.
[4] Xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng:
Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng
Tình tiết giảm nhẹ:
Các bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo; sau khi phạm tội các bị cáo đã đầu thú đối với hành vi trộm cắp tài sản, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần áp dụng để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước ta.
[5] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm có tính giản đơn, dù các bị cáo có bàn bạc trước nhưng không phân công cụ thể vai trò từng người, không cấu kết chặt chẽ, bị cáo Phạm Dũng T là người khởi xướng, rủ rê bị cáo D cùng thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chủ động chở bị cáo D đến cổng công ty giày, là người trực tiếp lợi dụng sơ hở của bảo vệ tại công ty giày để thực hiện hành vi trộm cắp. Hiện nay bị cáo đang bị tạm giam cần tiếp tục giam để thi hành án.
Bị cáo Nguyễn Sỹ D là đồng phạm với bị cáo T, bị cáo chuẩn bị tuavit, cùng T đến cổng công ty giày đứng chờ T trộm cắp xe mang ra, là người sử dụng tuavit tháo yếm và biển số xe nên cần cho bị cáo mức án tương xứng xứng với T, tuy nhiên bị cáo có nhân thân tốt; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nơi cư trú rõ ràng, ổn định; ngoài lần phạm tội này không có vi phạm gì khác; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo mới đủ 18 tuổi do vậy Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt đi chấp hành hình phạt tù cũng không ảnh hưởng đến cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm chung. Do vậy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, dưới sự giám sát, giáo dục của gia đình và chính quyền nơi cư trú cũng đủ để giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
[5] Về bồi thường dân sự: Đối với tài sản bị trộm cắp là 01 xe moto biển kiểm soát Honda Wave Alpha BKS 36B8 – 07510 của anh Nguyễn Duy D1 Cơ quan CSĐT đã trả lại xe cho anh Nguyễn Duy D1 là chủ sở hữu chiếc xe nên HĐXX không xem xét.
[6] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ: khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; (riêng Điều 38 đối với T và Điều 65 đối với D); Điều 48 Bộ luật hình sự;
Điều 135; Điều 136; Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Dũng T và Nguyễn Sỹ D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt:
- Bị cáo Phạm Dũng T: 09 (chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/10/2024
- Bị cáo Nguyễn Sỹ D : 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn Sỹ D cho UBND phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Dũng T và Nguyễn Sỹ D mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh Thị Khánh Tân |
Bản án số 110/2025/HS-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 110/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Dũng T và Nguyễn Sỹ D phạm tội Trộm cắp TS
