Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HS - PT

Ngày 27/11/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Tuấn Trọng.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Trung Thực và bà Nguyễn Thị Hương.

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu -Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hưng Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 142/2025/TLPT - HS ngày 30 tháng 10 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 154/2025/QĐXX - HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Khánh D.

Bị cáo kháng cáo: Nguyễn Khánh D, sinh năm 2006; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạnh T và bà Nguyễn Thanh T1; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 01/5/2025, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam số 2, Công an tỉnh H. Có mặt.

Ngoài ra, trong vụ án còn có 04 bị cáo và 05 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do từng xảy ra xô xát, xích mích với nhau từ ngày 25/4/2025 tại lễ hội Đồng Xâm nên khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 27/4/2025 khi Tô Văn C và Hồ Gia B đèo nhau đi đến gần cầu Q, xã L, tỉnh Hưng Yên thì gặp Vương Việt H và Phạm Quang M tại đây. Vì lo sợ bị đánh nên cả C, B, H, M đều chạy xe nhanh qua nhau. Khi xe của B, C đi qua quán B2 thì gặp nhóm của H, M hô đuổi theo nhưng chỉ đuổi đến cầu L, xã L thì không đuổi nữa.

Do việc bị nhóm của H, Minh Đ đánh nên Tô Văn C gọi cho Nguyễn Viết H1 bảo H1 đi lấy kiếm để đánh nhóm xích mích ở hội Đồng X, H1 đồng ý. Sau đó, C tiếp tục gọi cho Nguyễn Văn D1 bảo D1 mang cho mượn Ná cao su bắn bi sắt để đi đánh nhau, D1 đồng ý. Khi này Phạm Hoàng H2, Trịnh Xuân D2 đang đi chơi với D1 nên đã đi cùng D1. Cùng thời điểm, H1 chở Bùi Lê Tuấn K đến cống nước ở khu dân cư thôn Đ, xã B lấy 01 thanh kiếm dài khoảng 90cm mang đến quán B2. Đến nơi gặp B, C thì cả nhóm vào quán chơi B1-a đợi D1. Khoảng 22 giờ 20 phút D1, H2, D2 đến, D1 đưa N cao su và đạn bi sắt cho C. Lúc này C nói bị nhóm Thống N1 đuổi đánh và rủ D1, H2, D2 đi cùng thì cả 3 đồng ý. D2 nhặt ½ viên gạch vỡ để lên yên xe ở vị trí giữa D2 và H2 ngồi. Sau đó nhóm này (gọi là nhóm B) gồm: H2 điều khiển xe mô tô Honda Wave a màu đen, BKS 17B7 - 545.52 chở D2, Dương cầm theo ½ viên gạch; B điều khiển xe Wave 110 màu xanh, BKS 17B7 - 554.14 chở C, C cầm Ná cao su; H1 điều khiển xe mô tô Wave 110 màu trắng, BKS 17B7 - 554.08 chở K, K cầm theo 01 thanh kiếm; D1 điều khiển xe mô tô Honda Vision màu xanh, BKS 17AK - 011.89 đi một mình. Cả nhóm cùng đi về phía quán B2 tìm nhóm người vừa đuổi B, C đánh. Các đối tượng đi theo nhóm, thành đoàn, nối đuôi nhau giữa đường với tốc độ khoảng 60 - 70km/h, lạng lách, đánh võng, bấm còi.

Lúc này nhóm thanh niên (gọi là nhóm Thống N1) gồm: Phạm Việt H3 điều khiển xe Wave màu trắng chở Nguyễn Văn D3, Hoàng Chí T2; Vương Việt H điều khiển xe Wave màu trắng chở Phạm Quang M; Phạm Tuấn A điều khiển xe Wave màu đỏ đen chở Ngô Lương D4, Phạm Ngọc T3; Phạm Bá C1 điều khiển xe Sirius màu đen chở Đặng Đức T4, Nguyễn Thế D5 cùng đi lượn đường hóng gió theo hướng từ quán I thuộc xã L xã Q (cũ) - Ngã tư xã B - cây xăng B3, sau đó theo đường cũ để đi về quán B2-a Tít M1 chơi. Khi đi đến quán B2 thì gặp nhóm Bình N2 cầm vũ khí đi tới, nhóm Thống N1 sợ bị đánh nên bỏ chạy. Việt H chở Quang M chạy vào chợ L; Bá C1 chở T4, D5 chạy về xã L; D5, Tuấn A, D4, T4, T3 chạy vào trong quán I; H3 điều khiển xe chở T2, D3 chạy về hướng xã T (cũ). Thấy vậy, B quay xe lại và hô cả nhóm “đuổi theo” thì cả nhóm Bình N2 quay xe lại tăng tốc đuổi theo xe của H3. Khi đuổi đến gần khu vực cổng Trạm y tế xã N (cũ), C1 dùng Ná cao su bắn đạn bi sắt trúng vào bắp chân phải của D3. Khi đến gần trường C2 xã T cũ, Nguyễn Viết H1 điều khiển xe vượt lên áp sát xe của H3 thì K cầm kiếm bằng tay trái chém ngang 02 phát trúng vùng thắt lưng của T2 gây vết thương bầm tím ngoài da. H3 tăng tốc độ bỏ chạy thì H1, K, C1, B tiếp tục đuổi theo đến khu vực M (gần cây xăng Đ), thuộc xã L. Lúc này H1 điều khiển xe ép xe của H3 sang bên trái đường thì K dùng kiếm chém 02 phát trúng vào tay phải của H3 làm rách da ở mu bàn tay và cánh tay phải. H3 tiếp tục tăng tốc bỏ chạy đến cây xăng Đ1, thuộc thôn N, xã L do không làm chủ tốc độ nên tự đâm vào rãnh nước cạnh cây xăng làm T2, D3, H3 bị ngã xây xước ngoài da. Sau đó T2, D3, H3 bỏ xe lại và chạy trốn vào khu vực nghĩa trang phía sau cây xăng. Thấy H3, T2, D3 ngã, lúc này K xuống xe đến kiểm tra nhưng không thấy ai nên không đuổi theo nữa mà quay ra xe, cùng thời điểm xe của D1 và xe của H2, D5 đi đến nên cả nhóm đi về xã B. Trên đường đi

về, D5 ném ½ viên gạch xuống mương nước ở xã B rồi cùng H2, D1 đi về nhà trước. B, C1, K, H1 mang kiếm và ná cao su ra cống nước thuộc thôn Đ, xã B cất dấu rồi đi về.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS - ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên đã kết án bị cáo Nguyễn Khánh D phạm tội Gây rối trật tự công cộng.

Áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 58 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khánh D 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 01/5/2025.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm hình sự đối với các đồng phạm khác, quyết định về vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30 tháng 9 năm 2025, bị cáo Nguyễn Khánh D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hưng Yên phát biểu quan điểm: Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự 2015 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận một phần kháng cáo xin hưởng án treo của bị báo D6, sửa bản án sơ thẩm số 31/2025/HS - ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Toà án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên, xử phạt bị cáo 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Bị cáo không phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Nguyễn Khánh D được làm trong thời hạn do pháp luật quy định là hợp pháp, nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Khánh D: Trong quá trình tố tụng, bị cáo Nguyễn Khánh D khai báo thành khẩn và ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của các bị cáo khác trong vụ án và phù hợp với lời khai của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ hiện trường, biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; các biên bản xem xét dấu vết trên thân thể; bản kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ

vụ án, đã có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 22 giờ 30 phút, ngày 27/4/2025 tại đoạn đường từ quán B2 (chợ L, xã L) đến cây xăng Đ1 thuộc xã L, tỉnh Hưng Yên. Hồ Gia B điều khiển xe mô tô chở Tô Văn C, C cầm Ná cao su bắn đạn bi sắt do D mang đến; Nguyễn Viết H1 điều khiển xe mô tô chở Bùi Lê Tuấn K, K cầm kiếm dài 88cm; Nguyễn Khánh D điều khiển xe mô tô đi một mình; Phạm Hoàng H2 điều khiển xe mô tô chở Trịnh Xuân D2, D2 mang theo 1/2 viên gạch đuổi đánh xe mô tô do Phạm Việt H3 điều khiển chở theo Nguyễn Văn D3 và Hoàng Chí T2. Cả nhóm chạy xe với tốc độ cao, lạng lách, đánh võng, đi lấn sang làn đường ngược chiều và cầm theo hung khí. Quá trình đuổi theo xe B, C và H1, K đi tốp trước áp sát xe D3, H3, T2. Khi đó C dùng Ná cao su bắn đạn bi sắt trúng bắp chân D3; K cầm kiếm chém 02 phát vào thắt lưng T2, 02 phát vào mu bàn tay và bắp tay H3 gây thương tích bầm tím, xây xước da cho D3, H3, T2 cũng như làm cho D3, H3, T2 hoảng loạn, lao xe xuống rãnh nước, làm xe bị đổ ngã. Hành vi của D cùng các đồng phạm làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương, gây hoang mang lo sợ và làm rối loạn hoạt động giao thông bình thường của người dân trên địa bàn.

Bởi hành vi nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo D và các đồng phạm về tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 BLHS là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo của bị cáo D, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn, hối hận thực sự về hành vi phạm tội; bị cáo có ông, bà là người có công với cách mạng, được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Như vậy, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 02 năm tù, ở mức khởi điểm của khung hình phạt là thoả đáng, phù hợp với tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng. Vì thế, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo không có cơ sở chấp nhận.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét, bị cáo D cho đến trước khi bị đưa ra xét xử, là người có nhân thân tốt; bị cáo tham gia truy đuổi nhóm của D3 là do được C gọi điện, nhờ mang cho mượn Ná cao su; bị cáo không sử dụng hung khí để tấn công; không quyết liệt truy đuổi, chạy xe ở tốp sau, không áp sát xe nhóm của D3; được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có nơi cư trú rõ ràng. Tại giai đoạn phúc thẩm, bị cáo được gia đình đề nghị Tòa án xem xét cho cải tạo tại địa phương và gia đình nhận trách nhiệm quản lý, giáo dục. D đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất là tạm giam, đã nhận thức đầy đủ sự nghiêm minh của pháp luật trong xử lý sai phạm; tỏ rõ quyết tâm sửa chữa. Do vậy, không cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo khỏi xã hội mà cho bị cáo được cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền

địa phương và gia đình cũng đủ tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lao động có ích cho gia đình và xã hội.

Quan điểm đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Hưng Yên tại phiên tòa là có căn cứ, được chấp nhận.

[4] Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Bị cáo Nguyễn Khánh D kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 343; điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn Khánh D. Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 31/2025/HS - ST ngày 26 tháng 9 năm 2025 của Tòa án nhân dân khu vực 6 - Hưng Yên về phần quyết định hình sự đối với bị cáo Nguyễn Khánh D như sau:

Căn cứ: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2 và 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 92 Luật Thi hành án hình sự; khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Khánh D phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khánh D 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm, kể từ ngày tuyên án phúc thẩm 27/11/2025.

Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Khánh D, nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.

Giao bị cáo Nguyễn Khánh D cho UBND xã B, tỉnh Hưng Yên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Khánh D.

Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người hưởng án treo phải chấp hành án phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Bị cáo Nguyễn Khánh D không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

3. Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

4. Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT I - TAND tối cao;
  • - VKSND tỉnh Hưng Yên;
  • - Phòng PC10-CA tỉnh Hưng Yên;
  • - TAND, VKSND khu vực 6 - Hưng Yên;
  • - Bị cáo;
  • Lưu: Hồ sơ vụ án; Tòa HC; VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Tuấn Trọng

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

PHẠM TRUNG THỰC

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Phạm Trung Thực Hoàng Tuấn Trọng
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HS - PT ngày 27/11/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 110/2025/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger