TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2025/HNGĐ-ST Ngày 30-6 - 2025. V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Anh Thư.
- Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chu Thị Thanh Thủy
- Bà Châu Hồng Nga
- - Thư ký phiên tòa: Bà Chu Tường Vy- Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Dĩ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy An - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 101/2025/TLST – HNGĐ ngày 12 tháng 3 năm 2025 về tranh chấp ly hôn và nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 27/5/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 69/QĐST- HNGĐ ngày 13/6/2025, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Trương Thị H, sinh năm 1982; trú tại:1, đường X, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- - Bị đơn: Anh Vũ Ngọc T, sinh năm 1984; trú tại: 1, đường X, khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*) Theo đơn khởi kiện nộp tại tòa và lời khai trong quá trình tố tụng nguyên đơn chị Trương Thị H trình bày:
Chị Trương Thị H và anh Vũ Ngọc T tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2007, quyển số 01 tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An ngày 19 tháng 7 năm 2007.
Thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, đến sau này cuộc sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không hợp nhau, thường xuyên tranh cãi, vợ chồng không có sự đồng cảm, mỗi người có cuộc sống riêng, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị Trương Thị H xác định tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu được ly hôn với anh Vũ Ngọc T.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 04 con chung là Vũ Ngọc H1, sinh ngày 01/8/2007, Vũ Ngọc C, sinh ngày 22/5/2009, Vũ Ngọc P, sinh ngày 16/4/2013 và Vũ Thị Ngọc T1, sinh ngày 16/4/2016. Sau ly hôn chị Trương Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi 04 con và yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con 6.000.000đ/4 cháu/tháng đến khi con đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nghĩa vụ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết
*) Bị đơn anh Vũ Ngọc T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ trong suốt quá trình tố tụng, nhưng vắng mặt không lý do, đồng thời cũng không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị H.
- Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Nguyên đơn chị Trương Thị H khởi kiện tranh chấp ly hôn với anh Vũ Ngọc T hiện đang cư trú tại khu phố B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, do đó vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Dĩ An theo quy định tại Khoản 1 Điều 28; Điểm a, Khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Bị đơn anh Vũ Ngọc T được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia trong suốt quá trình tố tụng, nhưng vắng mặt không lý do; chị Trương Thị H có đơn yêu cầu được giải quyết vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị H và anh T.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H và anh Vũ Ngọc T đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2007, quyển số 01 ngày 19 tháng 7 năm 2007 tại UBND xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An nên là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Quá trình tố tụng chị Trương Thị H xác định cuộc sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc, thường xuyên cãi nhau, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không còn quan tâm đến nhau nữa.
Anh T được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa và cũng không có ý kiến gì, như vậy anh T đã từ bỏ quyền trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của chị H.
Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trương Thị H và anh Vũ Ngọc T đã trầm trọng, không ai còn quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị H được ly hôn với anh T.
[2.3] Về con chung: Chị H và anh T có 04 con chung là Vũ Ngọc H1, sinh ngày 01/8/2007, Vũ Ngọc C, sinh ngày 22/5/2009, Vũ Ngọc P, sinh ngày 16/4/2013 và Vũ Thị Ngọc T1, sinh ngày 16/4/2016. Chị Trương Thị H yêu cầu được trực tiếp nuôi 04 con và yêu cầu anh T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 04 con là 6.000.000đ (sáu triệu đồng)/tháng đến khi con đủ 18 tuổi.
Xét thấy, việc chăm sóc nuôi dưỡng con chưa thành niên là trách nhiệm và nghĩa vụ của cha mẹ. Hiện các cháu đang ở cùng với mẹ và các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ nếu cha mẹ không còn chung sống với nhau. Quá trình tố tụng anh T đã được triệu tập hợp lệ nhưng không có ý kiến gì về yêu cầu khởi kiện của chị H. Do anh T làm nghề tài xế, thường xuyên vắng nhà, để đảm bảo ổn định cuộc sống và việc học tập của các cháu, Hội đồng xét xử tiếp tục giao các cháu Vũ Ngọc H1, sinh ngày 01/8/2007, Vũ Ngọc C, sinh ngày 22/5/2009, Vũ Ngọc P, sinh ngày 16/4/2013 và Vũ Thị Ngọc T1, sinh ngày 16/4/2016 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Đối với yêu cầu cấp dưỡng 6.000.000₫ (sáu triệu đồng)/tháng cho 4 con của chị H là phù hợp với mức sống hiện tại của xã hội nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2.4] Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với quan điểm của Tòa án nên chấp nhận.
[4] Án phí sơ thẩm : Chị Trương Thị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật. Anh T phải chịu án phí cấp dưỡng theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 235, Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị H đối với bị đơn anh Vũ Ngọc T về việc tranh chấp ly hôn và nuôi con.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Trương Thị H được ly hôn với anh Vũ Ngọc T (theo Giấy chứng nhận kết hôn số 21/2007, quyển số 01 ngày 19 tháng 7 năm 2007 do UBND xã G, huyện T, tỉnh Nghệ An cấp).
- Về con chung: Giao 04 con chung là Vũ Ngọc H1, sinh ngày 01/8/2007, Vũ Ngọc C, sinh ngày 22/5/2009, Vũ Ngọc P, sinh ngày 16/4/2013 và Vũ Thị Ngọc T1, sinh ngày 16/4/2016 cho chị Trương Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Buộc anh Vũ Ngọc T thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 04 con là 6.000.000₫ (sáu triệu đồng)/tháng. Thời gian thực hiện cấp dưỡng tính từ ngày bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật đến khi con đủ 18 tuổi.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án chậm trả số tiền trên thì hàng tháng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án khoản tiền lãi theo mức lãi suất qui định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Sau ly hôn, chị H và anh T có quyền chăm sóc, thăm nom, giáo dục con, không ai có quyền cản trở anh chị thực hiện quyền này. Vì lợi ích về mọi mặt của con, khi một hoặc cả hai bên đương sự có yêu cầu, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung và nghĩa vụ chung : Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí sơ thẩm: Chị Trương Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0007733 ngày 07 tháng 3 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương.
Anh Vũ Ngọc T phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự ./.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Anh Thư |
Bản án số 110/2025/HNGĐ-ST ngày 30/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 110/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ DĨ AN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn, bị đơn có làm chứng nhận kết hôn, quá trình chung sống luôn mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống
