Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

1

Bản án số: 110/2025/HNGĐ-ST

Ngày 29-5-2025

V/v “T/c hôn nhân và gia đình"

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Mai Đình Thuận

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Viện

Bà Nguyễn Thị Hương

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa:

Ông Nguyễn Văn Chuỳ – Chức vụ: Kiểm sát viên

Ngày 29 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 181/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXX-ST ngày 17 tháng 3 năm 2025 giữa:

Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H, sinh ngày 22/12/1986

Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Nơi cư trú hiện nay: Số A ngõ A, ngõ D đường Q, quận B, thành phố Đ. Đài Loan (Trung Quốc)

Số định danh cá nhân: 038186007463

Hộ chiếu số: C6366128 do Cục Q1 cấp ngày 07/12/2018

Bị đơn: Anh Vũ Đăng H1, sinh ngày 22/5/1972

Địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Số định danh cá nhân: 038072037272

(Chị Đỗ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Vũ Đăng H1 vắng mặt không có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Đỗ Thị H trình bày:

- Về hôn nhân: Chị và anh Vũ Đăng H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 21/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quá trình chung sống hạnh phúc, đến tháng 8 năm 2018 thì chị đi xuất khẩu lao động tại nước Đài Loan (Trung Quốc), thời gian vợ chồng sống xa nhau luôn xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, tính tình không hợp, ngoài ra vì khoảng cách xa xôi nên vợ chồng không có điều kiện gần gủi nhau, tình cảm vợ chồng cũng phai nhạt dần. Chị đã nhiều lần hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không cải thiện. Bản thân chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn xin ly hôn với anh H1.

- Anh Vũ Đăng H1 trình bày: Về nguyên nhân điều kiện kết hôn như chị H trình bày là đúng. Anh và chị Đỗ Thị H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 21/11/2007, tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thanh Hóa.

Quá trình chung sống vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến tháng 8 năm 2018 thì chị đi xuất khẩu lao động tại nước Đài Loan (Trung Quốc), tháng 10 năm 2018 thì chị H về nước được thời gian ngắn, đến tháng 12 năm 2018 chị H quay trở lại Đài Loan (Trung Quốc) từ đó cho đến nay. Vợ chồng sống ly thân không quan tâm đến nhau, do đó tình cảm vợ chồng phai nhạt. Chị H xin ly hôn anh cũng đồng ý ly hôn.

* Về con chung:

- Chị H trình bày: Chị và anh H1 có 3 con chung. Cháu Vũ Văn H2, sinh ngày 12/12/2008, cháu Vũ Quang H3, sinh ngày 08/7/2013, cháu Vũ Ngọc Q, sinh ngày 06/11/2017. Hiện nay các cháu đang ở với anh H1, chị đề nghị giao 3 cháu cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng; chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu một tháng là 2.000.000đ cho đến khi các cháu thành niên.

- Anh H1 trình bày: Anh và chị H có 3 con chung. Cháu Vũ Văn H2, sinh ngày 12/12/2008; cháu Vũ Quang H3, sinh ngày 08/7/2013; cháu Vũ Ngọc Q, sinh ngày 06/11/2017. Hiện nay các cháu đang ở với anh. Anh đồng ý trực nuôi dưỡng các cháu và đồng ý chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu một tháng là 2.000.000đ cho đến khi các cháu thành niên.

* Về tài sản:

- Chị và anh H1 có tài sản chung gồm: Diện tích đất 1070,5m2 (trong đó 100m2 đất ở; đất trồng cây lâu năm 970,5m2, sử dụng đến ngày 15/10/1943; tại thửa đất số: 490, tờ bản đồ số 10; địa chỉ tại: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CQ 729300, số vào sổ cấp GCN; CH 01019; do UBND huyện T, tỉnh Thanh Hoá cấp ngày 04/01/2019 cho ông Vũ Đăng H1 và bà Đỗ Thị H. Chị H đề nghị giao toàn bộ quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho anh H1 được toàn quyền quản lý, sử dụng và định đoạt.

- Anh H1 trình bày: Anh và chị H có các tài sản chung gồm: 01 ngôi nhà cấp 4 do hai vợ chồng xây dựng vào năm 2009, xây dựng trên đất của bố mẹ anh, hiện nay đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2019 và đứng tên Vũ Đăng H1 và bà Đỗ Thị H.

Ly hôn anh đề nghị Toà án giải quyết tài sản của anh và chị Đỗ Thị H4 theo quy định của pháp luật.

Toà án đã tống đạt thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng cho người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và tống đạt cho bị đơn, nhưng nguyên đơn, bị đơn không nộp tiền chi phí tố tụng. Căn cứ Điều 156, điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết đối với phần tài sản và giành quyền dân sự giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

* Về công nợ: Các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2. Tại phiên tòa sơ thẩm:

- Chị Đỗ Thị H có đơn xin xử vắng mặt, anh Vũ Đăng H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt tại phiên toà. Vì vậy Toà án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử vắng mặt chị H và anh H1 theo thủ tục chung.

- Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hóa phát biểu quan điểm giải quyết vụ án:

Về việc tuân theo pháp luật: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa, trong quá trình thụ lý, giải quyết đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về hướng giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:

+ Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 37, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ quốc hội, quy định về án phí, lệ phí Toà án.

+ Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn H5.

+ Về con chung: Giao cháu Vũ văn H2, sinh ngày 12/12/2008, cháu Vũ Quang H3, sinh 08/7/2013, cháu Vũ Ngọc Q, sinh ngày 06/11/2017 cho anh Vũ Đăng H1 trực tiếp nuôi dưỡng.

+ Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện cấp dưỡng nuôi con của chị H1, Chị H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1 tháng là 2.000.000đ cho đến khi các cháu thành niên.

+ Về tài sản: Đình chỉ giải quyết về phần tài sản và giành quyền dân sự cho các đương sự giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

+ Về công nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

+ Về án phí: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Chị Đỗ Thị H hiện tại đang sinh sống tại Đài Loan (Trung Quốc) hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Vì vậy, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

Chị Đỗ Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt; anh Vũ Đăng H1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ lần thứ 2 các văn bản tố tụng, nhưng anh H1 vắng mặt tại phiên tòa; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về hôn nhân: Chị Đỗ Thị H và anh Vũ Đăng H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 21/11/2007 tại Ủy ban nhân dân xã T (nay là xã T), huyện T, tỉnh Thanh Hóa, như vậy quan hệ hôn nhân giữa chị H và anh H1 là hôn nhân hợp pháp.

[2.1] Xét mâu thuẫn vợ chồng: Quá trình chị H và anh H1 chung sống sống hạnh phúc đến tháng 8 năm 2018 thì chị H đi xuất khẩu lao động tại nước Đài Loan (Trung Quốc), trong thời gian chị H1 sinh sống, làm việc tại Đài Loan (Trung Quốc) thì phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm sống, tính tình không hợp. Ngoài ra chị Hiền T khi đi xuất khẩu lao động đến nay không về Việt Nam, do mỗi người sống một nơi ít quan tâm đến nhau, dẫn đến tình cảm bị phai nhạt. Chị H và anh H1 đều xác định tình cảm vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ. Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa chị H và anh H1 đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, chị H xin ly hôn anh H1 cũng đồng ý ly hôn, việc thuận tình ly hôn giữa chị chị H và anh H1 là hoàn toàn tự nguyện có căn cứ phù hợp Điều 55 Luật hôn nhân gia đình, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2] Về con chung: Chị H và anh H1 có 03 con chung, cháu Vũ Văn H2, sinh ngày 12/12/2008; cháu Vũ Quang H3, sinh ngày 08/7/2013; cháu Vũ Ngọc Q, sinh ngày 06/11/2017. Hiện nay các cháu đang ở với anh H1.

Chị H đề nghị giao cả 3 con cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng, chị có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu 1 tháng là 2.000.000đ cho đến khi các cháu thành niên.

Anh H1 đồng ý trực tiếp nuôi dưỡng 3 con và đồng ý chị H cấp dưỡng nuôi con mỗi cháu một tháng là 2.000.000đ.

Xét thấy: Hiện nay anh H1 đang trực tiếp nuôi dưỡng các con, đảm bảo tốt về mọi mặt, chị H đang ở nước ngoài không có điều kiện chăm sóc các cháu, nguyện vọng của các cháu là được ở với anh H1. Do đó tiếp tục giao cháu H2, cháu H3, cháu Q cho anh H1 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chấp nhận sự tự nguyện của chị H và anh H1, chị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, mỗi cháu một tháng là 2.000.000đ, cho đến khi các cháu thành niên.

[2.3] Về tài sản: Toà án đã tống đạt thông báo nộp tiền tạm ứng chi phí tố tụng cho người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn và tống đạt cho bị đơn, nhưng nguyên đơn, bị đơn không nộp tiền chi phí tố tụng. Căn cứ Điều 156, điểm đ khoản 1 Điều 217 Bộ luật tố tụng dân sự, đình chỉ giải quyết đối với phần tài sản và giành quyền dân sự giải quyết bằng vụ án khác khi có yêu cầu.

[2.4] Về công nợ: Do các bên đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điều 37, khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Điều 51, Điều 56, điều 81; điều 82; điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

1. Về hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Đỗ Thị H và anh Vũ Văn H5.

- Về con chung: Giao cháu Vũ Văn H2, sinh ngày 12/12/2008; cháu Vũ Quang H3, sinh ngày 08/7/2013; cháu Vũ Ngọc Q, sinh ngày 06/11/2017 cho anh H5 trực tiếp nuôi dưỡng.

Chị H có quyền đi lại thăm nom chăm sóc con chung không ai được cản trở.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Đỗ Thị H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1 cháu là 2.000.000đ (hai triệu đồng), (3 cháu là 6.000.000đ/1 tháng), cho đến khi các cháu thành niên, thời gian cấp dưỡng nuôi con tính từ tháng 6 năm 2025.

- Về tài sản: Đình chỉ giải quyết về phần tài sản.

- Về công nợ: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí: Chị Đỗ Thị H phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con và 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Số tiền trên được trừ vào số tiền 300.000đ tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại Biên lai thu số 0000600 ngày 15/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, chị H còn phải nộp 300.000đ (ba trăm nghìn đồng).

3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ được tống đạt hoặc được niêm yết bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại HN;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - UBND xã Thạch Quảng;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA; Tòa HNGĐ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Đình Thuận

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HNGĐ-ST ngày 29/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 110/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hôn nhân và gia đình giữa Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị H và Bị đơn: Anh Vũ Đăng H1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger