Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HNGĐ-ST

Ngày 27-6-2025

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Quốc Văn

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hồ Lệ Hoa

Ông Nguyễn Văn Chính

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Phượng Kiều là Thư ký Tòa án của Toà án

nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.

Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thới Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 178/2025/TLST – HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2025 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 190/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 10 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồng H, sinh năm 1987 (đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Thôn A, xã M, huyện P, tỉnh Bình Định

  • Bị đơn: Chị Phan Thị N, sinh năm 1994 (đề nghị vắng mặt)

Địa chỉ cư trú: Khóm E, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau..

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 21 tháng 4 năm 2025 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Nguyễn Hồng H trình bày:

Anh H và chị N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T ngày 06/6/2018. Thời gian đầu vợ chồng chung sống rất hạnh phúc, thời gian gần đây do bất đồng quan điểm, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn không thể hàn gắn được nên anh H yêu cầu được ly hôn với chị N.

Con chung: Vợ chồng có một người con chung là Nguyễn Nhã Ý, sinh ngày 27/3/2020, hiện chị N đang nuôi dưỡng, khi ly hôn anh thống nhất giao cháu Ý cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, anh không cấp dưỡng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Không có.

Chị Phan Thị N trình bày:

Về hôn nhân: Chị N với anh H tự nguyện chung sống với nhau năm 2018, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn T. Thời gian chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cải vã, không tôn trọng, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên chị N với anh H đã ly thân từ năm 2020 đến nay, trong thời gian ly thân vợ chồng không có hàn gắn để đoàn tụ. Chị N xét thấy không thể tiếp tục chung sống với anh H được nữa nên chị thống nhất ly hôn với anh H.

Về con chung: Có một người con chung là Nguyễn Nhã Ý, sinh ngày 27/3/2020 hiện chị N đang nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị N yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, chị không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị N với anh H không thể đoạn tụ, tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án chị N đã được tiếp cận. Còn anh H đề nghị xét xử vắng mặt nên chị N đề nghị được từ chối tham phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải. Đề nghị đưa vụ án ra xét xử.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng:

Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, việc anh H yêu cầu ly hôn với chị N thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình.

Anh H, chị N đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa dân sự sơ thẩm lần thứ nhất, anh H, chị N vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự này.

Về nội dung vụ án:

[1] Về hôn nhân: Anh H và chị N tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn theo quy định nên được pháp luật công nhận là vợ chồng. Quá trình chung sống đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cải vã, không tôn trọng, thương yêu, chăm sóc lẫn nhau, dẫn đến cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh H và chị N đã ly thân từ năm 2020 đến nay, anh H yêu cầu ly hôn được chị N thống nhất. Điều đó, cho thấy hôn nhân của anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu của anh H được ly hôn với chị N.

[2] Về con chung: Anh H thống nhất giao cháu Ý cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng. Xét thấy việc anh H giao cháu Ý cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn toàn tự nguyện và không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, đồng thời chị N cũng thống nhất nuôi dưỡng cháu Ý nên Hội đồng xét xử giao con chung cho chị N tiếp tục nuôi dưỡng, chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[3] Tài sản chung, nợ chung: Không có, các đương sự không yêu cầu nên không xét.

[4] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh H phải chịu số tiền là 300.000 đồng theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do anh H đã nộp tạm ứng án phí nên được đối trừ không phải nộp tiếp.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ nêu trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

  1. Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hồng H và chị Phan Thị N được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhã Ý, sinh ngày 27/3/2020 cho chị Phan Thị N tiếp tục nuôi dưỡng. Chị N không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
  3. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Hồng H phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 04/6/2025 anh H đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0022429 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Anh H, chị N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - Tòa án tỉnh Cà Mau;
  • - VKSND huyện Thới Bình;
  • - Chi cục THADS huyện Thới Bình;
  • - UBND xã Biển Bạch;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Quốc Văn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 110/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: [1] Về hôn nhân: Anh Nguyễn Hồng Hà và chị Phan Thị Nhung được ly hôn. [2] Về con chung: Giao cháu Nguyễn Nhã Ý, sinh ngày 27/3/2020 cho chị Phan Thị Nhung tiếp tục nuôi dưỡng. Chị Nhung không yêu cầu anh Hà cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét. Anh Hà có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. [3] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Hồng Hà phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Ngày 04/6/2025 anh Hà đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0022429 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình được chuyển thu án phí. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Anh Hà, chị Nhung được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày được nhận hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger