Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 20-6-2025

V/v: Xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Khắc Hoàng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Hồng

Ông Nguyễn Tất Thể

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Quỳnh Lê - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số 70/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2025 về việc “Xin ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 93/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 5 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số 90/2025/QĐST-HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2025 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Võ Thị H, sinh năm: 1996; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Y, xã Y, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt)
  • - Bị đơn: Anh Hoàng Hữu N, sinh năm: 1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú trước khi xuất cảnh: xã C (nay là TDP C, thị trấn C), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh; Hiện đang lao động tại Nhật Bản. (Có ý kiến xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo nội dung đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn chị Võ Thị H trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị H và anh Hoàng Hữu N kết hôn trên tinh thần tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, đăng ký kết hôn vào ngày 05/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là Thị trấn C), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường bất đồng quan điểm sống, hiện nay tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài thêm. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ năm 2018 đến nay. Năm 2022, anh N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Võ Thị H làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Hữu N.
  • - Về con chung: vợ chồng chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành đăng tin trên kênh của Ban Đối ngoại (VOV5) Đ trong ba ngày liên tiếp 01,02,03/4/2025 để thông báo cho anh Hoàng Hữu N có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên hết thời hạn được thông báo, anh N không có mặt tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành làm việc với anh Hoàng Hữu N thông qua cuộc gọi video có hình ảnh với anh Hoàng Hữu N qua ứng dụng Facebook của anh N là “Hoàng Hữu N” (do bà Nguyễn Thị T là mẹ đẻ của anh N cung cấp thông tin) tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh. Tại buổi làm việc, bị đơn anh Hoàng Hữu N trình bày:

  • - Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Hữu N thống nhất về nội dung trình bày của chị Võ Thị H về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn. Anh N đồng ý với yêu cầu xin ly hôn của chị H, đề nghị Tòa án giải quyết cho anh N và chị H được ly hôn.
  • - Về con chung: vợ chồng chưa có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • - Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh N trình bày đang lao động tại Nhật Bản, không thể về Việt Nam giải quyết ly hôn, không cung cấp được địa chỉ tại Nhật Bản cho Tòa án. Anh N xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ủy quyền cho mẹ đẻ là bà Nguyễn Thị T thay anh N thực hiện việc giao nhận các tài liệu, văn bản tố tụng với Tòa án. Quá trình làm việc, bà Nguyễn Thị T đồng ý việc ủy quyền giao nhận tài liệu, văn bản của anh Hoàng Hữu N, cam kết sẽ thông báo lại kịp thời nội dung các tài liệu, văn bản tố tụng của Tòa án để anh N được biết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự đã phân tích nội dung vụ việc, các vấn đề đương sự đã thỏa thuận thống nhất được với nhau và đề nghị Tòa án áp dụng: Áp dụng Điều 51, 56, 57, 123 Luật hôn nhân và gia đình 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; Điều 10 Nghị Quyết 01/2024 ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ án hôn nhân gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu miễn giảm thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí, giải quyết:

  • Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị H được ly hôn anh Hoàng Hữu N.
  • Về con chung, nợ chung, tài sản chung: Không có, không yêu cầu nên không xem xét.
  • Về án phí: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, ý kiến trình bày của đương sự và đại diện Viện kiểm sát; Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Chị Võ Thị H và anh Hoàng Hữu N đăng ký kết hôn ngày 05/4/2018 tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là Thị trấn C), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nay chị Võ Thị H khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Hoàng Hữu N. Tại công văn cung cấp thông tin xuất nhập cảnh số 444/QLXNC-Đ1 ngày 18/4/2025 của Phòng Q – Công an tỉnh H, xác nhận: Anh Hoàng Hữu N, sinh ngày 26/10/1994; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thị trấn C, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh đã xuất cảnh lần gần đây nhất vào ngày 17/5/2022, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Căn cứ các Điều 28, 37, 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự; nội dung khởi kiện của nguyên đơn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

[1.2]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Võ Thị H có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Hoàng Hữu N hiện đang sinh sống, lao động tự do tại Nhật Bản, không cung cấp được địa chỉ và thuộc trường hợp bị đơn cố tình dấu địa chỉ. Mặc dù đã được Tòa án thông báo làm việc, triệu tập hợp lệ theo quy định của pháp luật nhưng anh N không có mặt tại Tòa án để tham gia giải quyết vụ án và xin được vắng mặt trong toàn bộ quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, 228, 238 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao; Tòa án tiến hành mở phiên tòa xét xử vắng mặt chị H, anh N theo thủ tục chung.

[2]. Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị H và anh Hoàng Hữu N tự do tìm hiểu, kết hôn trên tinh thần tự nguyện vào năm 2018, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã C (nay là Thị trấn C), huyện C, tỉnh Hà Tĩnh cấp giấy chứng nhận kết hôn. Căn cứ quy định tại Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình, hôn nhân của chị H và anh N là hợp pháp. Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường bất đồng quan điểm, hiện nay tình cảm vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài thêm. Vợ chồng đã sống ly thân kể từ năm 2018 đến nay. Năm 2022, anh N đi xuất khẩu lao động tại Nhật Bản. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mâu thuẫn không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Võ Thị H làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh Hoàng Hữu N. Anh Hoàng Hữu N thống nhất về nội dung trình bày của chị Võ Thị H về việc kết hôn, quá trình chung sống và phát sinh mâu thuẫn; thừa nhận tình cảm vợ chồng không còn nữa nên việc chị H xin ly hôn thì anh N cũng đồng ý.

Xét thấy mâu thuẫn giữa chị H và anh N là có xảy ra trên thực tế và đã trầm trọng, vợ chồng không còn quan tâm, trách nhiệm gì đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cho chị Võ Thị H được ly hôn anh Hoàng Hữu N.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng không có con chung nên không xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung, nợ chung: Vợ chồng không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm; nguyên đơn và bị đơn có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, 39, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273, 464, 469, 479 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 8, 9, 51, 56, 57, 123 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Điều 26, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Điều 10 Nghị quyết số 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Võ Thị H được ly hôn với anh Hoàng Hữu N.
  2. Về án phí: Chị Võ Thị H phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm (được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Giấy thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số [...] ngày 20/3/2025 ký bởi Công ty Cổ phần T1).
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật, bị đơn vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo trong hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND TT. Cẩm Xuyên,
  • H. Cẩm Xuyên, T. Hà Tĩnh;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

THAY MẶT HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Khắc Hoàng

6

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

HỘI THẨM NHÂN DÂN THẨM PHÁN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Sỹ Quân

Trần Đăng Ninh

Nguyễn Hà Ngân

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HNGĐ-ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về xin ly hôn

  • Số bản án: 110/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cho chị Võ Thị H được ly hôn với anh Hoàng Hữu N
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger