Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THOẠI SƠN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 17-6-2025

Về việc T/c “Ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vương Thị Hồng Nhớ.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Hồng Nhung; ông Nguyễn Thành Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Thắng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn không tham gia phiên tòa.

Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 159/2025/TLST-HNGD ngày 16 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025; Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2025/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Trương Thị Bích T, sinh năm 1990. Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Nam. (Có đơn xin vắng mặt)
  • - Bị đơn: Anh Nguyễn Thành P, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp S, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai nguyên đơn chị Trương Thị Bích T trình bày: Chị và anh P quen biết, tự tìm hiểu rồi chung sống với nhau từ năm 2021, có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc và có với nhau 01 con chung. Khi con được 10 tháng tuổi thì anh P có người phụ nữ khác và bỏ nhà đi từ đó cho đến nay. Giữa vợ chồng không có biện pháp nào để hàn gắn mối quan hệ và đã sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:

  • - Về hôn nhân: Chị Trương Thị Bích T yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Thành P.
  • - Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Trương Hoàng D, sinh ngày 16/11/2021. Sau khi ly hôn yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con.
  • - Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Bị đơn anh Nguyễn Thành P đã được Tòa án tống đạt Thông báo thụ lý, triệu tập các lần hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định pháp luật nhưng anh vẫn không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Bích T.

Tại phiên tòa, nguyên đơn và bị đơn vắng mặt.

Hội đồng xét xử đã công bố bản tự khai của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn Nguyễn Thành P, sinh năm 1996. Địa chỉ: ấp S, xã A, huyện T, tỉnh An Giang. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp nuôi con thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015.

Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Nguyễn Thành P Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng anh P vẫn vắng mặt tại phiên toà. Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án xét xử vắng mặt nguyên đơn và anh P theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung, xem xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Nguyên đơn chị Trương Thị Bích T và bị đơn anh Nguyễn Thành P quen biết, tự tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh An Giang theo giấy chứng nhận kết hôn số 02 ngày 19/01/2021 nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Lời khai của nguyên đơn thừa nhận về tình cảm của vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn mà cả hai lại không có biện pháp nào để hàn gắn được mối quan hệ này và vợ chồng cũng đã sống ly thân một thời gian dài từ năm 2022, trong thời gian này mỗi người đều có cuộc sống riêng, không ai quan tâm ai. Do đó, chị T yêu cầu ly hôn anh P là có căn cứ. Hội đồng xét xử xét thấy, mục đích hôn nhân giữa chị trâm và anh P không đạt được nên chấp nhận yêu cầu được ly hôn của chị T đối với anh P theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[3] Về con chung: Chị T và anh P có 01 con chung tên Nguyễn Trương Hoàng D, sinh ngày 16/11/2021.

Theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con”.

Trong quá trình giải quyết mặc dù nhận được Thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập của Tòa án mời làm việc, mời Hòa giải nhưng anh P vẫn không có văn bản ý kiến gửi đến Tòa án về yêu cầu khởi kiện của chị T cũng như có ý kiến về nuôi con chung. Do đó, căn cứ vào lời khai và tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, HĐXX thấy: Từ khi cháu D được sinh ra cho đến nay, người trực tiếp nuôi dưỡng cháu D là chị T, mặc dù hiện nay con đã trên 36 tháng tuổi nhưng để đảm bảo về mọi mặt cho con như: Môi trường sống, sinh hoạt và phát triển tâm sinh lý cho con. Thấy, cần ổn định cho con được tiếp tục sống với mẹ. Do vậy, HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T, giao cháu Nguyễn Trương Hoàng D cho chị T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Chị T không yêu cầu anh P cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Chị T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Sau khi ly hôn anh P thấy rằng chị T không đủ điều kiện nuôi con chung theo quy định pháp luật thì anh có quyền làm đơn khởi kiện yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn được quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trương Thị Bích T.

  1. Về hôn nhân: Chị Trương Thị Bích T được ly hôn với anh Nguyễn Thành P.
  2. Về con chung: Chị Trương Thị Bích T và anh Nguyễn Thành P có 01 con chung tên Nguyễn Trương Hoàng D, sinh ngày 16/11/2021.
    • - Giao cháu Nguyễn Trương Hoàng D cho chị Trương Thị Bích T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Anh Nguyễn Thành P không phải cấp dưỡng nuôi con do chị T không yêu cầu.
    • - Chị Trương Thị Bích T cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh P trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con. Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, của cơ quan có thẩm quyền thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.
  3. Về nợ chung, tài sản chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
  4. Về án phí: Chị Trương Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) tiền án phí hôn nhân sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0021867 ngày 15/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn. (Đã nộp xong)
  5. Về quyền kháng cáo: Chị Trương Thị Bích T và anh Nguyễn Thành P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án, hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - VKSND huyện Thoại Sơn;
  • - Chi cục THADS huyện Thoại Sơn;
  • - UBND xã An Bình, H. Thoại Sơn, tỉnh AG;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu VP;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vương Thị Hồng Nhớ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2025/HNGĐ-ST ngày 17/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 110/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NĐ yêu cầu ly hôn và tranh chấp nuôi con với BĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger