| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 110/2025/DS-ST
Ngày: 06/6/2025.
V/v “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Tấn Phát
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đinh Kim Hoàng
Bà Nguyễn Thị Đông Nguyệt
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Chi - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh- Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 239/2024/DSST, ngày 07/10/2024 về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 391/2025/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty T1 (Việt Nam). Đại diện theo ủy quyền: Lâm Thị Thùy D, Sinh năm: 2000.
Địa chỉ liên lạc: Phòng số 401, Tầng D, Tòa nhà số G T, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Bị đơn: Ông Lâm Quang C, sinh năm: 1997
Địa chỉ: 2 Đ, Phường A, Quận D, Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn trình bày: Ngày 26/10/2022 Công ty T1 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số: 3844876 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho Bị đơn Lâm Quang C với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, lãi suất 44%/năm.
Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho bị đơn. Theo Hợp đồng tín dụng, bị đơn có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 25/11/2022 đến ngày 25/10/2024.
Sau khi được giải ngân, bị đơn đã thanh toán 14.261.266 đồng (Trong đó: G đã trả: 6.801.761 đồng; L đã trả: 7.387.505 đồng; Phí thu hộ đã trả: 72.000 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 26/05/2023, bị đơn đã không thanh toán/ thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.
Công ty T1 đã tiến hành liên hệ qua điện thoại đề nghị Bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán của mình theo hợp đồng. Đồng thời, Công ty T1 cũng đã gửi thư đề nghị thực hiện nghĩa vụ thanh toán, để thông báo trực tiếp cho Bị đơn biết về việc hoàn thành nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng. Tuy nhiên, Bị đơn vẫn không có bất kỳ hành động thực tế nào thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng cho phía Công ty T1.
Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng Bị đơn vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc Bị đơn thanh toán cho Công ty tổng cộng số tiền tạm tính kể từ ngày 25/6/2023 (ngày chuyển nợ quá hạn) đến ngày 06/6/2025 là: 55.077.542 đồng. Trong đó:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.178.239 đồng.
- - Số tiền lãi trong hạn: 8.431.077 đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn: 20.169.936 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả: 1.298.390 đồng
Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc Bị đơn phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 07/6/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Bị đơn - Ông Lâm Quang C vắng mặt nên không có lời trình bày.
Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Giấy triệu tập và Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử cho bị đơn, để thực hiện việc tham gia tố tụng tại Tòa án, nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt nhưng vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ, có đủ cơ sở xác định nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả toàn bộ khoản nợ và lãi còn thiếu là có cơ sở, cần được chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ còn thiếu theo Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết, như vậy có đủ cơ sở xác định đây là vụ án dân sự về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng”; Bị đơn có hộ khẩu thường trú tại Quận D, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Thủ tục mở phiên tòa vắng mặt đương sự: Nguyên đơn có yêu cầu vắng mặt. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự.
Xét đề nghị của nguyên đơn chỉ yêu cầu cá nhân ông C có trách nhiệm trả khoản nợ, không yêu cầu đưa thêm người vào tham gia tố tụng là tự nguyện và không trái pháp luật nên chấp nhận.
[2]. Về nội dung: Hội đồng xét xử nhận thấy, Ngày 26/10/2022 Công ty T1 (VIỆT NAM) (sau đây gọi tắt là Công ty T1) ký Hợp đồng tín dụng số: 3844876 (sau đây gọi tắt là Hợp đồng tín dụng) về việc cấp tín dụng cho ông Lâm Quang C với khoản vay trị giá 31.980.000 đồng, lãi suất 44%/năm. Sau khi ký kết, Công ty T1 đã giải ngân theo đúng quy định trong Hợp đồng tín dụng cho ông Lâm Quang C. Theo Hợp đồng tín dụng, ông Lâm Quang C có nghĩa vụ thanh toán hàng tháng trong kỳ hạn 24 tháng kể từ ngày 25/11/2022 đến ngày 25/10/2024.
Sau khi được giải ngân, ông Lâm Quang C đã thanh toán 14.261.266 đồng (Trong đó: G đã trả: 6.801.761 đồng; L đã trả: 7.387.505 đồng; Phí thu hộ đã trả: 72.000 đồng). Tuy nhiên, từ ngày 26/05/2023 bị đơn đã không thanh toán/thanh toán không đầy đủ theo nghĩa vụ hợp đồng đối với khoản vay mà phía Công ty T1 đã giải ngân.
Do đã gửi thông báo nhắc nợ nhưng Bị đơn vẫn cố tình không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo HĐTD cho phía Công ty. Nên Công ty đã nộp đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tuyên buộc Bị đơn thanh toán cho Công ty tổng cộng số tiền tạm tính kể từ ngày 25/6/2023 (ngày chuyển nợ quá hạn) đến ngày 06/6/2025 là: 55.077.542 đồng. Trong đó:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.178.239 đồng.
- - Số tiền lãi trong hạn: 8.431.077 đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn: 20.169.936 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả: 1.298.390 đồng
Ngoài ra Công ty còn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán lãi phát sinh kể từ ngày 07/6/2025 cho đến khi thi hành xong bản án có hiệu lực pháp luật.
Do bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay và lãi hàng tháng mà các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết. Cho nên, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán một lần số tiền nợ gốc và lãi tới hạn là có cơ sở. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 8.3 Hợp đồng tín dụng, các Điều 90; 91; 95 và Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng, căn cứ vào các Điều 357, 466 và 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn - Công ty T1 (VIỆT NAM): buộc Bị đơn thanh toán cho nguyên đơn tổng cộng số tiền tính từ ngày 25/6/2023 (ngày chuyển nợ quá hạn) đến ngày 06/6/2025 là: 55.077.542 đồng. Trong đó:
- - Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.178.239 đồng.
- - Số tiền lãi trong hạn: 8.431.077 đồng.
- - Số tiền lãi quá hạn: 20.169.936 đồng.
- - Số tiền lãi chậm trả: 1.298.390 đồng
Ngoài ra, bị đơn phải trả lãi chậm thanh toán lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số: 3844876 kể từ ngày 07/6/2025 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là: 2.753.877 đồng; Trả lại số tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 203, Điều 220, khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào các Điều 357, 466, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 90; 91; 95 và Điều 108 Luật các Tổ chức tín dụng;
- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;
- Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Buộc ông Lâm Quang C có trách nhiệm trả cho Công ty T1 (VIỆT NAM) một lần ngay khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật số tiền nợ của hợp đồng tín dụng số 3221526 là: 55.077.542 (Năm mươi lăm triệu không trăm bảy mươi bảy nghìn năm trăm bốn mươi hai) đồng, bao gồm: Số dư nợ gốc còn lại chưa thanh toán: 25.178.239 đồng; Số tiền lãi trong hạn: 8.431.077 đồng; Số tiền lãi quá hạn: 20.169.936 đồng; Số tiền lãi chậm trả: 1.298.390 đồng.
Bị đơn phải trả lãi chậm thanh toán phát sinh tính từ ngày 18/3/2025 theo mức lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số 3221526 cho đến khi bị đơn trả hết nợ cho nguyên đơn.
Thi hành khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm: ông Lâm Quang C phải nộp 2.753.877 (Hai triệu bảy trăm năm mươi ba nghìn tám trăm bảy mươi bảy) đồng.
Công ty T1 (VIỆT NAM) không phải nộp án phí. Trả lại số tiền tạm ứng án phí 811.000 (T trăm mười một nghìn) đồng cho Công ty T1 (VIỆT NAM) đã nộp theo biên lai thu số 0006648 ngày 16/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 4.
3. Về quyền kháng cáo: đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 15 ngày, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án này trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày tuyên án theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Huỳnh Tấn Phát |
Bản án số 110/2025/DS-ST ngày 06/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 110/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 4 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: TC HĐ TÍN DỤNG
