|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/DS-PT Ngày: 27 - 6 - 2025 V/v “Tranh chấp lối đi” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Nhum
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Nhân
Bà Nguyễn Thị Nga
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Anh - Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên
Xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 215/2024/TLPT ngày 28/11/2024 về việc “Tranh chấp lối đi”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 320/2024/QĐPT-DS ngày 30 tháng 12 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 15/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025, Thông báo về thời gian mở lại phiên tòa số 20/TB-TA ngày 10 tháng 02 năm 2025, Thông báo về việc dời thời gian xét xử số 24/TB-TA ngày 25 tháng 02 năm 2025, Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 12/2025/QĐPT-DS ngày 26 tháng 3 năm 2025, Quyết định tạm đình chỉ xét xử phúc thẩm số 10/2025/QĐPT-DS ngày 28 tháng 4 năm 2025, Quyết định tiếp tục giải quyết vụ án số 11/2025/QĐPT-DS ngày 16 tháng 6 năm 2025 và Thông báo thời gian mở lại phiên tòa số 79/TB-TA ngày 16 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1976; Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (có mặt).
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1969; Địa chỉ: tổ D, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (có mặt).
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Đặng Thị Hồng L, sinh năm 1979; Địa chỉ: ấp C, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- 3.2. Bà Đỗ Thị T1, sinh năm 1968 (có mặt);
- 3.3. Bà Nguyễn Thị Thùy V, sinh năm 1993 (vắng mặt);
- 3.4. Ông Nguyễn Trọng T2, sinh năm 1995 (vắng mặt);
- 3.5. Ông Nguyễn Phi H, sinh năm 2000 (vắng mặt);
- 3.6. Bà Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1998 (vắng mặt);
- 3.7. Bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1990 (có mặt)
Cùng địa chỉ: Tổ D, ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước
- 3.8. UBND huyện L, tỉnh Bình Phước; Địa chỉ: Thị trấn L, huyện L, Bình Phước
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh Đ – Phó trưởng phòng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện L (vắng mặt).
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Nguyễn Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 24 tháng 10 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Thành N trình bày:
Ông Nguyễn Thành N có một thửa đất được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 51 ngày 14/8/2003 với diện tích 12.729m², nguồn gốc đất do cha mẹ ruột ông cho tặng năm 1999, thửa đất của ông có một con đường hình thành năm 1979, con đường có diện tích chiều rộng khoảng 04m, chiều dài khoảng 49,5m, đây là con đường duy nhất dẫn vào thửa đất của ông N, không thuộc sở hữu của riêng ai.
Từ tháng 8 năm 2023 gia đình ông T bà T1 rào lưới B40 gia đình ông N không có đường vào thửa đất, nay ông N yêu cầu hộ ông T gỡ bỏ hàng rào lưới B40, lấp lại đường mương nước trả lại lối đi chung có diện tích 197,7m² theo như trích đo bản đồ năm 2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L.
Tại đơn phản tố ngày 13 tháng 11 năm 2023 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Văn T trình bày:
Hộ gia đình ông T có các thành viên gồm: Bà Đỗ Thị T1, bà Nguyễn Thị Thùy V, ông Nguyễn Trọng T2, ông Nguyễn Phi H, bà Nguyễn Thị Thu H1, bà Nguyễn Thị T3.
Phần đất có diện tích 197,7m² tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước (Phần đất có vị trí, hình thể và số liệu như chỉnh lý biến động bản đồ địa chính số 31 – 2019 ngày 21/5/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L) là đường đi riêng gia đình, được hình thành từ khoảng năm 1989, do gia đình ông T sử dụng vào mục đích đi lại để lấy nguồn nước tưới tiêu. Phần đất này nằm trong thửa đất số 321, đã được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00229 ngày 16/5/2011 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T. Gia đình ông T4 (cha của ông N) có đi nhờ trên phần đất này từ năm 1989, đến năm 1999 gia đình ông T4 có viết tờ cam kết thể hiện ông T4 phải tôn trọng và quyền làm chủ của ông T. Mặc dù kết luận giám định không đủ cơ sở kết luận chữ ký và chữ viết trong tờ giấy cam kết là do ông Nguyễn Thi V1 và ký, tuy nhiên căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 00229 ngày 16/5/2011 mang tên hộ ông Nguyễn Văn T thì đủ cơ sở xác định phần đất diện tích 197,7m² là thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình ông Nguyễn Văn T.
Do ông T4 (cha ông N) không tôn trọng quyền làm chủ của hộ ông T nên nay ông N khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh buộc hộ ông T trả lại phần đất có diện tích 197,7m² (Phần đất có vị trí, hình thể và số liệu như Chỉnh lý biến động bản đồ địa chính số 31 – 2019 ngày 21/5/2019 của C nhành văn phòng đăng ký đất đai huyện L) là ông, bà không đồng ý, ông T có đơn phản tố không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn và công nhận diện tích 198m² (4m x 49,5m) là con đường thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn T đã được UBND huyện L cấp giấy CNQSDĐ ngày 16/5/2011 số vào sổ CH 00229.
Do tài sản trong gia đình bị mất nhiều nên gia đình có rào đường đi, hơn nữa con đường đi trên là nằm trong thửa đất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của gia đình. Nay ông N khởi kiện mở lối đi gia đình không đồng ý, đề nghị Tòa án xem xét, xét xử theo quy định pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Hồng L1 thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông Nguyễn Thành N, không có ý kiến yêu cầu gì khác.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Đỗ Thị T1, Nguyễn Thị T3, Nguyễn Thị Thùy V, Nguyễn Trọng T2, Nguyễn Phi H, Nguyễn Thị Thu H1 thống nhất với ý kiến của ông T, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện L trình bày:
Thửa đất số 321, tờ bản đồ số 13, diện tích 14.207m² tọa lạc ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước được UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00229 ngày 16/5/2011 cho hộ ông Nguyễn Văn T. Việc UBND huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH00229 ngày 16/5/2011 là đúng quy định pháp luật về đất đai. Nay các bên phát sinh tranh chấp quyền sử dụng đất thì đề nghị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Biên bản ghi lời khai người làm chứng ngày 11 tháng 3 năm 2025, người làm chứng Mai Văn M trình bày:
Ông M không có quan hệ thân thích với ông N và ông T. Ông M không biết sự việc cam kết giữa ông Nguyễn T4 và ông Nguyễn T vào ngày 02/4/1999 và Tờ cam kết giữa ông T4 và ông T. Ông M không có ký và ghi tên vào tờ cam kết và không biết gì để trình bày với Toà án.
Con đường mà ông N và ông T đang tranh chấp đã có từ trước và được người đồng bào sử dụng làm đường đi từ trước khi ông T sử dụng thửa đất của mình.
Tại Kết luận giám định số 472/KL-KTHS ngày 09/6/2025 của Phòng Kl Công an tỉnh B kết luận:
- - Không có đủ cơ sở kết luận chữ ký bên dưới chữ Nguyễn T4 dưới mục “cùng đứng tên” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Nguyễn T4 trên mẫu so sánh ký hiệu M1 – M6 có phải do cùng một người ký ra hay không.
- - Không đủ cơ sở kết luận chữ ký Mai Văn M dưới mục “Nhân chứng” trên mẫu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký đứng tên Mai Văn M trên mẫu so sánh ký hiệu M7 – M10 có phải do cùng một người ký ra hay không.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thành N.
Buộc hộ ông Nguyễn Văn T gỡ bỏ hàng rào lưới B40, lấp đường mương nước có chiều rộng 0,5m, chiều sâu 0,5m chiều dài con đường theo như trích đo bản đồ địa chính số 31, ngày 21/5/2019 và trả lại lối đi chung có diện tích 197,7m², lối đi có vị trí, hình thể và số liệu như Chỉnh lý biến động bản đồ địa chính số 31 – 2019 ngày 21/5/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L.
Hộ gia đình ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn về việc công nhận diện tích 198m² (4m x 49,5m) là con đường thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn T đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/5/2011 số vào sổ CH 00229.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo.
Ngày 25/9/2024, bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Thành N giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án sơ thẩm; Bị đơn ông T và bà T1 là vợ ông T xác định thửa đất ở giữa con đường đã được ông bà rào bằng một bên bằng lưới B40 và một bên bằng kẽm gai, ông T và bà T1 đồng ý cho ông N đi trên con đường nhưng không đồng ý cho những người khác sử dụng con đường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị T3 thống nhất với ý kiến của ông T, bà T1. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
- Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước:
Về tố tụng: Từ thời điểm thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T làm trong thời gian luật định, hình thức và nội dung phù hợp quy định tại các Điều 272, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Xét kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Giữa nguyên đơn và bị đơn tranh chấp quyền sử dụng diện tích 197,7m² toạ lạc tại ấp H, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Ông N cho rằng phần đất này được gia đình ông và các hộ dân khu vực ấp H sử dụng để làm lối đi từ những năm 1989, lời khai của ông N được một số người dân trong khu vực làm chứng. Ngược lại ông T5 cho rằng thửa đất thuộc quyền sử dụng từ trước, chứng cứ ông T đưa ra để chứng minh cho mình là kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L xác định phần đất này thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình ông và Tờ cam kết ngày 02/4/1999 giữa bố ông N là ông Nguyễn T4 với ông T, trong đó có nội dung thể hiện ông T cho ông T4 sử dụng đất làm đường đi và ông T4 phải tôn trọng quyền làm chủ của ông T.
Xét thấy, lời khai của ông N được nhiều người dân địa phương làm chứng như ông Bùi khắc T6 nguyên là Chủ tịch UBND xã L hiện là Trưởng ấp H, xã L xác định: “con đường các đương sự đang tranh chấp có trước năm 1987, trước đây có nhiều người cùng đi chung nhưng hiện gia đình ông T đã móc mương, rào đường”; ông Lâm Hùng V2 là Cán bộ dân tộc tôn giáo xã L trình bày: “con đường đi đã có từ khoảng năm 1993 do người đồng bào dân tộc thiểu số đi lại giữa hai sóc Lâm Bui và sóc Măng Ro, ông cũng đi lại thường xuyên, thửa đất ông N ở phía trong đường đi có nguồn gốc trước đây của ông Tri K (anh rể ông, hiện đã chết) bán cho ông Nguyễn T4 (cha ông N), khi bán đã có lối đi vào vườn từ khoảng năm 1993, hiện nay gia đình ông T bà T1 rào lại không cho gia đình ông N đi là không đúng với thực tế”; ông Trương Hữu T7 trình bày: “Năm 1986 ông là cán bộ dân hợp tác xã Quyết Thắng, năm 1986 hợp tác xã cấp cho ông Nguyễn T4 một thửa đất giáp với thửa đất bà S (mẹ của ông Nguyễn Văn T) thửa đất của bà S hiện vợ chồng ông T đang quản lý, sử dụng, khi ông T4 được cấp đất thì đã có lối đi qua đất bà S (mẹ ông T) vào thửa đất ông T4 (cha ông N), thời gian năm 1986 cho đến khi gia đình ông N vào canh tác thì có nhiều người cùng đi trên lối đi qua thửa đất nhà vợ chồng ông T, hiện nay gia đình ông T rào lại không cho gia đình ông N đi là không đúng với thực tế”. Việc ông N sử dụng phần đất này làm con đường đi được chính ông T thừa nhận.
Ngược lại, ông T cho rằng việc ông N sử dụng con đường ảnh hưởng đến việc quản lý tài sản và sử dụng đất của gia đình nên ông không cho gia đình ông N tiếp tục sử dụng. Ông T cho rằng phần đất này thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho gia đình ông nhưng đối chiếu hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T năm 1996 cho thấy thửa đất của ông chỉ có diện tích 12.536m² xung quanh thửa đất giáp đất ông T4, ông Q và đường chứ không giáp suối như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp năm 2011; sau khi đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gia đình ông T tăng thêm 1.671m² thành 14.207m² và có phần giáp suối như hiện nay. Diện tích tăng thêm tương đương với diện tích con đường ông N sử dụng làm đương đi (197,7m²) và diện tích giữa suối và con đường (1.065m²), phù hợp với lời khai cho rằng quá trình sử dụng đất ông T khai phá thêm phần đất bên kia con đường đến suối, sau đó ông T đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên diện tích tăng thêm và bao gồm cả con đường ông T4 và người dân sử dụng làm đường đi. Như vậy, UBND huyện L cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông T nhưng không làm rõ lý do diện tích tăng thêm, không cho những người sử dụng đất giáp ranh ký xác nhận, cơ quan có thẩm quyền không làm rõ nguồn góc con đường đi đã có trên thửa đất nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện L là chưa đảm bảo về căn cứ và trình tự, thủ tục.
Ông T, bà T1 cho rằng ông Nguyễn T4 đã thỏa thuận xác nhận trong Tờ cam kết là đất của ông T, bà T1 nhưng ông T4 không thừa nhận Tờ cam kết cũng như không có căn cứ xác định ông Nguyễn T4 ký vào Tờ cam kết; ông Mai Văn M là người ông T cho rằng đã chứng kiến việc thoả thuận của ông T4 xác định không biết và không ký làm chứng việc thoả thuận giữa ông T4 và ông T; Kết luận giám định số 472/KL-KTHS ngày 09/6/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh B cũng kết luận không có đủ cơ sở kết luận chữ ký của ông Nguyễn T4 và ông Mai Văn M trong Tờ cam kết có phải là do các ông ký hay không nên ý kiến của ông T, bà T1 không có cơ sở chấp nhận. Trường hợp Tờ cam kết giữa ông T và ông Nguyễn T4 là đúng thì ông T cũng phải tôn trọng sự thoả thuận trong Tờ cam kết là phải “... không cản trở trên đường ông T4 đi”, nên việc ông T móc mương cản trở việc sử dụng đất của ông N và vi phạm Tờ cam kết này.
Như vậy, Toà án nhân dân huyện Lộc Ninh căn cứ việc sử dụng con đường ổn định của gia đình ông Nguyễn Thành N, lời khai của những người làm chứng và thiếu sót của UBND huyện L trong việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông T để chấp nhận yêu cầu của ông N, buộc gia đình ông T khôi phục tình trạng ban đầu để ông N sử dụng làm đường đi là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật. Do đó, yêu cầu kháng cáo của ông Nguyễn Văn T không có căn cứ chấp nhận, cần giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước
[4] Về án phí, chi phí tố tụng phúc thẩm:
- Về chi phí giám định: Chi phí Tòa án đi lại liên hệ mượn và giao, nhận hồ sơ tài liệu tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L, Công an xã L, Phòng Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh B, Phòng K1 Công an tỉnh B là 2.000.000 đồng. Do yêu cầu của ông Nguyễn Văn T không có căn cứ chấp nhận nên ông T phải chịu, được trừ vào số tiền ông T đã nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Nguyễn Văn T không được chấp nhận nên ông T phải chịu theo quy định pháp luật.
[5] Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ nêu trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự,
Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn T.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 48/2024/DS-ST ngày 17 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
Căn cứ Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015; Các Điều 166, 171, 202, 203 luật đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thành N về việc tranh chấp lối đi với bị đơn ông Nguyễn Văn T.
Buộc hộ ông Nguyễn Văn T gỡ bỏ hàng rào lưới B40, lấp đường mương nước có chiều rộng 0,5m, chiều sâu 0,5m chiều dài con đường theo như trích đo bản đồ địa chính số 31 ngày 21/5/2019 và trả lại lối đi chung có diện tích 197,7m², lối đi có vị trí, hình thể và số liệu như Chỉnh lý biến động bản đồ địa chính số 31 – 2019 ngày 21/5/2019 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện L.
Hộ gia đình ông Nguyễn Văn T có trách nhiệm liên hệ với cơ quan có thẩm quyền để kê khai, đăng ký cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật.
2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc công nhận diện tích 198m² (4m x 49,5m) là con đường thuộc quyền sử dụng đất của hộ ông Nguyễn Văn T đã được Ủy ban nhân dân huyện L cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 16/5/2011 số vào sổ CH 00229.
3. Về chi phí giám định ở cấp phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn T phải chịu 2.000.000 đồng (hai triệu đồng), được trừ vào số tiền ông T đã nộp tại Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước theo Biên bản giao nhận ngày 31/3/2025 và Bảng kê thanh toán chi phí giám định của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước. Ông T đã thực hiện xong.
4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn ông Nguyễn Văn T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được trừ vào số tiền tạm ứng ông T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006600 ngày 27 tháng 9 năm 2024.
5. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nhum |
Bản án số 110/2025/DS-PT ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp lối đi
- Số bản án: 110/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp lối đi
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp lối đi nhân thanh LN
