|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 110/2025/DS-PT Ngày: 10-6-2025. V/v "Tranh chấp quyền sử dụng đất" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hiệp
Các thẩm phán: Ông Lê Văn Duy
Ông Trần Bá Nguyên
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mỹ Tiên - Thư ký TAND tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Tú Oanh- Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 34/2025/TLPT-DS ngày 20 tháng 3 năm 2025 về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 92/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn C, sinh năm: 1937
Địa chỉ: Xóm H, thôn H, xã B, huyện T, Bình Định.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: anh Nguyễn Xuân V, sinh năm 1985. Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai (Văn bản ủy quyền ngày 03/9/2019); có mặt.
- Bị đơn: Ông Lê Minh H, sinh năm 1976; có mặt
Bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm 1972; có mặt
Cùng địa chỉ: Xóm H, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị C1, sinh năm 1946
- Ông Nguyễn Xuân V1, sinh năm 1969
- Bà Nguyễn Thị Bích V2, sinh năm 1970
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. - Bà Nguyễn Thị Trinh V3, sinh năm 1971
- Ông Nguyễn Quốc V4, sinh năm 1975
Đồng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai. - Bà Nguyễn Thị Tường V5, sinh năm 1978
Địa chỉ: Khu phố P, P. T, tỉnh Bình Phước. - Bà Nguyễn Thị Trung V6, sinh năm 1980
Địa chỉ: Tô H, phường A, thị xã A, tỉnh Gia Lai. - Bà Nguyễn Thị Nga M, sinh năm 1990
Địa chỉ: Thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định. - Ông Nguyễn Xuân V; sinh năm 1985; có mặt
Địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện M, tỉnh Gia Lai
Người đại diện theo ủy quyền của bà Trần Thị C1, ông Nguyễn Xuân V1, bà Nguyễn Thị Bích V2, Nguyễn Thị Trinh V3, ông Nguyễn Quốc V4, bà Nguyễn Thị Tường V5, Nguyễn Thị Trung V6, Nguyễn Thị Nga M là ông Nguyễn Xuân V; có mặt.
- Bà Dương Thị Mỹ L, sinh năm 1979
Địa chỉ: Xóm H, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định; vắng mặt. - Ủy ban nhân dân huyện T
Đại diện theo pháp luật: Ông Phan Chí H1 - Chủ tịch UBND huyện T. Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Vĩnh H2 – Phó trưởng phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (Văn bản ủy quyền số 16/GUQ-UBND ngày 05/8/2024 của Chủ tịch UBND huyện T); vắng mặt. - Ủy ban nhân dân xã B, huyện T.
Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Công D1 - Chủ tịch UBND xã B. Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Viết V7- Công chức Địa chính - xây dựng - Nông nghiệp - Môi trường UBND xã B, huyện T; có mặt. - Ông Trần Văn T, sinh năm 1971, bà Đoàn Thị L1, sinh năm 1976
Địa chỉ: Xóm H, thôn H, xã B, huyện T, Bình Định; vắng mặt.
Người kháng cáo: Bị đơn ông Lê Minh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 12/11/2020, bản tự khai ngày 10/10/2020 nguyên đơn ông Nguyễn Văn C và đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Nguyễn Xuân V trình bày:
Thửa đất số 1452, tờ bản đồ số 07, diện tích 541m² tọa lạc tại thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 248045 ngày 22/10/2007 cho hộ ông Nguyễn Văn C; giới cận: Đông giáp nhà đất của ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D, ông H bà D đã xây dựng mái chái lấn chiếm sang phần đất của gia đình ông có diện tích đất là 19,8m², gia đình ông đã nhiều lần yêu cầu nhưng ông H bà D không tháo dỡ trả lại đất. Sau khi Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ và kết quả đo vẽ ranh giới sơ đồ thửa đất theo bản đồ VN 2000 và ranh giới xây dựng sử dụng thực tế của Văn phòng đăng ký đất đai huyện T, thì ranh giới đất của đất ông C bị lấn chiếm là 25m². Cho nên, nay yêu cầu vợ chồng ông H bà D có nghĩa vụ trả lại diện tích lấn chiếm là 25m², ngoài ra không yêu cầu gì khác.
Tại các lời khai, trong quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa bị đơn ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D trình bày:
Ngôi nhà và đất thửa 1453, tờ bản đồ số 07, diện tích 262m² tọa lạc tại xóm H, thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định mà ông bà đang sử dụng là của mẹ ông H (bà Dương Thị Thanh T1) để lại, được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AL 248412 ngày 22/10/2007 cho hộ bà Dương Thị Thanh T1. Nguồn gốc đất của ông bà để lại cho cha ông, cha ông chết năm 1974, mẹ ông chết năm 2017, cha mẹ chết không để lại di chúc. Nhà trước đây do ông, bà nội xây dựng năm 1965 đến năm 2001 nhà xuống cấp vợ chồng ông xây dựng lại nhà mới trên nền móng nhà cũ và sử dụng từ trước đến nay không thay đổi gì. Nay ông C khởi kiện cho rằng vợ chồng ông lấn chiếm diện tích 25m² đất nên vợ chồng ông không đồng ý.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị C1, ông Nguyễn Xuân V1, bà Nguyễn Thị Bích V2, Nguyễn Thị Trinh V3, ông Nguyễn Quốc V4, Nguyễn Xuân V, bà Nguyễn Thị Tường V5, Nguyễn Thị Trung V6, Nguyễn Thị Nga M đều trình bày: Các ông bà đều thống nhất như lời trình bày và yêu cầu của ông Nguyễn Xuân V đại diện cho nguyên đơn ông Nguyễn Văn C.
Bà Dương Thị Mỹ L trình bày: Thống nhất như lời trình bày của bị đơn ông Lê Minh H. Nguồn gốc đất mà ông H đang sử dụng là của mẹ bà là bà Dương Thị Thanh T1 để lại. Nay ông Nguyễn Văn C khởi kiện vợ chồng ông H, bà D, yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Đại diện UBND huyện T ông Lê Vĩnh H2 trình bày:
- Nguồn gốc đất của hộ ông Nguyễn Văn C:
Thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, theo bản đồ 299 thửa đất số 575, tờ bản đồ số 6, diện tích 480m²(trong đó 300m² đất ở, 180m² đất vườn), theo bản đồ VN 2000 nay là thửa đất số 1452, tờ bản đồ số 07, diện tích 541.0m²(trong đó 300m² đất ở, 241m² đất trồng cây hàng năm) cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C - Nguồn gốc đất hộ bà Dương Thị Thanh T1:
Thực hiện Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ, theo bản đồ 299 thửa đất số 570, tờ bản đồ số 6, diện tích 300m² đất ở, theo bản đồ VN 2000 nay là thửa đất số 1453, tờ bản đồ số 07, diện tích 262m² loại đất ở cấp cho hộ bà Dương Thị Thanh T1.
Tại văn bản số: 26/UNND ngày 10/4/2024 của UBND xã B:
- Nguồn gốc thửa đất số 1452 mới (cũ 575); Tờ bản đồ số 07 mới (06 cũ) và diện tích mới: (mới 541.0m², trong đó 300.0m² ONT, 241.0m² BHK) (cũ 480m², trong đó 300.0m² đất, 180.0m² đất vườn).
- Sổ mục kê cũ (mới) thể hiện tên ông: Nguyễn Văn C.
- Sổ địa chính cũ (mới) thể hiện tên hộ ông: Nguyễn Văn C.
- Bản đồ đo vẽ năm 1997 và bản đồ đo vẽ theo hệ tọa độ VN 2000 vẫn công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông Nguyễn Văn C.
- Nguồn gốc thửa đất số 1453 mới (cũ 570); Tờ bản đồ số 07 mới (06 cũ) và diện tích mới: (mới 262.0m² ONT) (cũ 300.0m² đất ở).
- Sổ mục kê cũ (mới) thể hiện tên bà: Dương Thị Thanh T1.
- Sổ địa chính cũ (mới) thể hiện tên hộ bà: Dương Thị Thanh T1.
- Bản đồ đo vẽ năm 1997 và bản đồ đo vẽ theo hệ tọa độ VN 2000 vẫn công nhận và cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Dương Thị Thanh T1.
- Quá trình sử dụng đất:
- Hộ bà Dương Thị Thanh T1 là người trực tiếp sử dụng và xây dựng nhà ở trên thửa đất số 1453 mới (cũ 570); Tờ bản đồ số 07 mới (06 cũ).
- Hộ ông Nguyễn Văn C là người trực tiếp sử dụng và xây dựng nhà ở trên thửa đất số: 1452 mới (cũ 575); Tờ bản đồ số 07 mới (06 cũ).
- Việc đăng ký kê khai quyền sử dụng đất:
- Hộ bà Dương Thị Thanh T1 đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số tại thửa đất số: 1453 mới (cũ 570); Tờ bản đồ số 07 mới (06 cũ).
- Hộ ông Nguyễn Văn C đăng ký, kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 1452 mới (cũ 575); Tờ bản đồ số 07 mới (06 cũ).
3. Về diện tích của thửa đất số 1452 mới (cũ 575); tờ bản đồ số 07 (cũ 6) và diện tích 541m² (diện tích cũ 480m²) của hộ ông Nguyễn Văn C có thay đổi tăng diện tích 61m² đất vườn (Tòa án nhân dân huyện có văn bản đề nghị UBND xã B cung cấp).
4. Quá trình sử dụng đất: Năm 2003 hộ ông Nguyễn Văn C có chuyển nhượng 135m² đất ở cho vợ chồng ông Trần Văn T, bà Đoàn Thị L1 theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng được UBND xã B chứng nhận ngày 24/11/2003, UBND huyện T đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 09/01/2004.
5. Ý kiến của UBND huyện T: Theo bản đồ địa chính và công trình xây dựng (Trích lục chỉnh lý), thửa đất của ông Nguyễn Văn C và bà Dương Thị Thanh T1 được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B – Chi nhánh huyện T đo vẽ ngày 23/3/2021 thì ranh giới theo hiện trạng của thửa đất số 1452, tờ bản đồ số 07 có thiếu đi 25m² so với ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định đã quyết định:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 238, Điều 157, 158, 165, 166 của Bộ luật tố tụng Dân sự 2015;
Căn cứ vào các Điều 163, 164, 166, 246 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Điều 26, 31 của Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Buộc ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D phải tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên diện tích 25m² đất trồng cây hàng năm khác tại thửa đất số 1452, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại thôn H, xã B, huyện T, tỉnh Bình Định để trả lại 25m² đất trồng cây hàng năm khác cho hộ ông Nguyễn Văn C được sử dụng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H10671 ngày 22/10/2007 do UBND huyện T cấp cho hộ ông Nguyễn Văn C (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
2. Không chấp nhận yêu cầu của ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D cho rằng không lấn chiếm đất của hộ ông Nguyễn Văn C vì không có căn cứ pháp luật.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Văn C (do ông Nguyễn Xuân V nộp thay) số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0006964 ngày 18/11/2020 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
4. Về chi phí tố tụng: Ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 3.000.000 đồng. Ông Nguyễn Xuân V đã nộp tạm ứng số tiền 3.000.000 đồng nên ông H, bà D phải trả lại cho ông V số tiền 3.000.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về quyền nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.
Ngày 17/01/2025 ông Lê Minh H có đơn kháng cáo, yêu cầu xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Ông Lê Minh H giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Đại diện UBND huyện T, bà Dương Thị Mỹ L, ông Trần Văn T, bà Đoàn Thị L1 đã triệu tập hợp lệ lần 2. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng tiến hành xét xử.
Về việc giải quyết vụ án: Kháng cáo của ông Lê Minh H là không có căn cứ; đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của ông H, giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Kháng cáo của ông Lê Minh H là trong thời hạn và đã nộp tạm ứng án phí nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm. Đại diện UBND huyện T, bà Dương Thị Mỹ L, ông Trần Văn T2 và bà Đoàn Thị L1 đã triệu tập hợp lệ lần thứ 2. Căn cứ Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng tiến hành xét xử.
[2] Xét kháng cáo của ông Lê Minh H, Hội đồng xét xử thấy rằng:
[2.1] Năm 1998 hộ ông Nguyễn Văn C được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 575, tờ bản đồ số 6, diện tích 480m², trong đó 300m² đất ở và 180m² đất vườn (theo bản đồ đo vẽ năm 1997). Năm 2007 được cấp đổi lại giấy chứng nhận nay là thửa số 1452, tờ bản đồ số 07, diện tích 541m², trong đó 300m² đất ở, 241m² đất trồng cây hàng năm khác (theo bản đồ đo vẽ theo hệ tọa độ VN B). Năm 2010 ông C chuyển nhượng cho ông Trần Văn T và bà Đoàn Thị L1 135m² đất ở. Năm 2018 Nhà nước thu hồi 44,2m² đất vườn để xây dựng cải tạo nâng cấp QL 19, nên diện tích còn lại là: 361,8m² (165m² đất ở + 196,8m² đất HNK).
Phía đông của thửa đất hộ ông Nguyễn Văn C nêu trên, giáp với thửa đất số 570, tờ bản đồ số 6, diện tích 300m² đất ở, cấp quyền sử dụng cho hộ bà Dương Thị Thanh T1. Năm 2007 được cấp đổi lại giấy chứng nhận nay là thửa số 1453, tờ bản đồ số 07, diện tích 262m² đất ở (theo bản đồ đo vẽ theo hệ tọa độ VN B). Năm 2015 Nhà nước thu hồi 13,5m², nên diện tích còn lại là 248,5m² đất ở, hiện vợ chồng ông Lê Minh H bà Nguyễn Thị Mỹ D là con của bà T1 đang quản lý sử dụng.
Theo bản đồ địa chính và công trình xây dựng thửa đất 1452 và thửa 1453 (Trích lục chỉnh lý) ngày 23/3/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B- Chi nhánh huyện T, thể hiện:
Thửa đất 1452 và thửa 1453 liền kề nhau, chiều rộng đều hướng ra đường Q(hướng T). Theo sơ đồ thửa tại giấy chứng nhận: Ranh chung theo chiều dài của hai thửa có cạnh dài 28m(theo độ dài của thửa 1452), ở cuối ranh chung này, chiều dài tiếp theo của thửa 1453 gãy chuyển sang giáp ranh chung với chiều rộng của thửa 1452 dài 2,6m, nên thửa 1453 có phần diện tích đất lồi về hướng Tây bắc (tức phía sau ngoài thửa 1452), tiếp giáp thửa 1381. Ranh theo hiện trạng xây dựng: Từ điểm gãy 2,6m ranh theo giấy chứng nhận, ông H bà D làm lai mái, xây móng tường thẳng về phía trước (hướng ra đường quốc lộ 19) 20m giáp với ranh chung của hai thửa theo giấy chứng nhận, tạo tam giác có diện tích 25m², (không còn điểm gãy vuông góc với cạnh theo chiều rộng phía sau củathửa 1453). Cho nên, ranh theo hiện trạng xây dựng thửa đất 1453, tờ bản đồ số 7 của hộ bà Dương Thị Thanh T1 hiện ông H, bà D đang sử dụng đã lấn qua ranh theo giấy chứng nhận thửa đất số 1452, tờ bản đồ số 7 của hộ ông Nguyễn Văn C diện tích 25m² đất trồng cây hàng năm khác. Ranh theo hiện trạng của thửa đất số 1452, tờ bản đồ số 07 có thiếu đi 25m² so với ranh theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp.
Trên đất lấn chiếm vợ chồng ông H, bà D có làm mái lai, xây móng tường để nấu rượu được xây vào năm 2001, tài sản này đã hết giá trị sử dụng.
Theo Biên bản xác minh ngày 31/12/2024 tại UBND xã B thể hiện: Trường hợp cấp giấy chứng nhận, diện tích tăng, giảm của 02 thửa đất nói trên là do sai số trong khi đo đạt. Số liệu diện tích cũ dựa trên bản đồ đo vẽ năm 1997, còn số liệu mới dựa trên theo bản đồ tọa độ VN B, hình thể ranh giới giữa hai thửa đất không bị thay đổi.
Mặc khác, tại phiên tòa phúc thẩm ông H thừa nhận thực tế đất gia đình sử dụng lớn hơn diện tích được cấp, cụ thể bao nhiêu m² ông không biết. Còn việc ông H cho rằng xây dựng trên nền móng cũ ông bà để lại nhưng không yêu cầu xem xét tại chỗ, đo đạt lại.
Cho nên, Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D phải tháo dỡ các công trình đã xây dựng trên diện tích 25m² đất trồng cây hàng năm khác thuộc thửa đất số 1452, tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại thôn H, xã B, huyện T để trả lại cho hộ ông Nguyễn Văn C đúng theo ranh giới Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H10671 ngày 22/10/2007 của UBND huyện T là có căn cứ quy định tại các Điều 26, Điều 31 Luật đất đai năm 2024; Điều 164 Bộ luật Dân sự năm 2015.
[2.2] Về án phí dân sự sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên bị đơn ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch quy định tại khoản 2 Điều 26 và khoản 2 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[2.3] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét tại chỗ và định giá tài sản đại diện nguyên đơn đã nộp tạm ứng 3.000.000 đồng và đã chi xong. Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, nên ông Lê Minh H, bà Nguyễn Thị Mỹ D phải chịu 3.000.000 đồng để trả lại cho nguyên đơn quy định tại Điều 157 và Điều 165 Bộ luật TTDS.
Tại cấp phúc thẩm, ông Lê Minh H không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận, giữ nguyên bản án sơ thẩm nên ông Lê Minh H phải chịu án phí dân sự phúc thẩm quy định khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Đề nghị của đại diện VKSND tỉnh Bình Định tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của bị đơn ông Lê Minh H; giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 02/2025/DS-ST ngày 16/01/2025 của Tòa án nhân dân huyện Tây Sơn, tỉnh Bình Định.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Lê Minh H phải chịu 300.000 án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số: 0005844 ngày 10/02/2025 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Sơn.
3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Hiệp |
|
Thành viên hội đồng xét xử Trần Bá Nguyên Lê Văn D2 |
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Nguyễn Văn H3 |
Bản án số 110/2025/DS-PT ngày 10/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 110/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Quyền sử dụng đất
