TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 110/2024/LĐ-PT Ngày: 29-11 - 2024 V/v Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Út
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thoa
Ông Nguyễn Tiến Dũng
Thư ký phiên tòa: Bà Lâm Hỷ Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Phan Hoàng Anh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 12; ngày 26 và và ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, số A N, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 76/2024/TLPT-LĐ ngày 09 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động”.
Do bản án lao động sơ thẩm số 13/2024/LĐ-ST ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 5637/2024/QĐPT-LÐ ngày 22/10/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Dương Lệ N, sinh năm: 1973; Cư trú tại: C B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: G N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hồ Đức T, sinh năm: 1990; Cư trú tại: 4 N, Phường I, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ liên lạc: G N, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 00014761 ngày 04/6/2022 tại Văn phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh).
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn P;
Trụ sở tại: E A, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Việt B, sinh năm 1977 – Chức vụ: Giám đốc.
Địa chỉ: 3 C P, Phường B, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Trọng N1, sinh năm 1976
Địa chỉ: B V, Phường A, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo Giấy ủy quyền ngày 18/3/2024 của Công ty Trách nhiệm hữu hạn P).
Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Dương Lệ N và bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Dương Lệ N có người đại diện theo ủy quyền là ông Hồ Đức T trình bày:
Ngày 01/4/2021, bà Dương Lệ N và Công ty Trách nhiệm hữu hạn P (sau đây gọi tắt là Công ty) ký hợp đồng lao động không xác định thời hạn số 80110.03/HĐLĐ-PHDSG ngày 01/4/2021. Quá trình làm việc bà N không có bất kỳ vi phạm nào, luôn tuân thủ nội quy công ty. Ngày 01/10/2021, Công ty Đ ban hành thông báo đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với bà N kể từ ngày 01/10/2021. Với lý do: Dịch covid-19 diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất của công ty; Dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu nhân sự, cắt giảm chi phí và thu hẹp quy mô kinh doanh. Bà N không đồng ý việc Công ty cho nghỉ việc nên đã khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân Quận 8 buộc Công ty thanh toán tiền trợ cấp thôi việc.
Ngày 25/4/2022 Toà án nhân dân Quận 8 đã giải quyết vụ việc bằng Bản án số 08/2022/LĐ-ST. Nội dung: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N buộc Công ty TNHH P thanh toán tiền trợ cấp thôi việc. Do không hiểu biết quy định pháp luật, nên bà N chỉ yêu cầu giải quyết về trợ cấp thôi việc mà chưa yêu cầu Toà án giải quyết hết các quyền lợi về đơn phương chấp dứt hợp đồng.
Việc Công ty đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật:
Vi phạm về thời gian báo trước: Hợp đồng lao động của bà N và Công ty L1 không xác định thời hạn. Do đó, khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại khoản 1 Điều Điều 36 Bộ luật lao động, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động ít nhất 45 ngày. Tuy nhiên, ngày bà N nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng lao động cũng là ngày Công ty cho bà N nghỉ việc.
Vi phạm quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động: Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bà N là do D covid-19 diễn biến phức tạp làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động sản xuất của công ty, dẫn đến sự thay đổi trong cơ cấu nhân sự, cắt giảm chi phí và thu hẹp quy mô kinh doanh. Tuy nhiên, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 36 Bộ luật lao động quy định: khi dịch bệnh nguy hiểm người sử dụng lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng với điều kiện đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn phải giảm chỗ làm việc. Thế nhưng, thời điểm Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bà N là đầu tháng 10/2021 cũng là lúc dịch bệnh về cơ bản đã được kiểm soát; Thành phố Hồ Chí Minh dở bỏ tất cả các lệnh phong tỏa, mọi hoạt động kinh doanh được hoạt động bình thường. Như vậy, việc Công ty chấm dứt hợp đồng lao động với bà N là đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật theo quy định tại Điều 39 Bộ luật lao động, do không thực hiện đúng các quy định tại Điều 36 Bộ luật lao động.
Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật: Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ đối với người lao động theo quy định tại Điều 41 Bộ luật lao động, cụ thể:
- Nhận người lao động trở lại làm việc; trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày không được làm việc và phải trả thêm ít nhất 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
- Vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động những ngày không báo trước.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 Bộ luật lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì bồi thường thêm ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng lao động.
Nguyên đơn xác nhận đã được Công ty G tuy nhiên bà Dương Lệ N đã làm thất lạc. Từ khi nghỉ việc tại Công ty, bà Dương Lệ N chưa làm việc ở bất kỳ công ty nào. Hiện nay bà Dương Lệ N đã được Bảo hiểm xã hội chi trả bảo hiểm xã hội một lần. Nguyên đơn xác nhận mức lương để căn cứ đóng bảo hiểm và tính tiền lương cho bà Dương Lệ N là 4.730.000 đồng.
Bà Dương Lệ N đề nghị Toà án xem xét, giải quyết buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn P thanh toán cho bà Dương Lệ N các khoản sau:
- Thanh toán tiền lương trong những ngày bà Dương Lệ N không được làm việc tạm tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 16/7/2024 là 4.730.000 x 32,5 tháng = 153.725.000 đồng.
- Thanh toán tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp cho bà Dương Lệ N trong thời gian bà N không được làm việc tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 16/7/2024 là: 4.730.000 x 21,5 x 32 tháng = 32.540.000 đồng.
- Buộc Công ty TNHH P phải bồi thường cho bà Dương Lệ N 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật tương đương số tiền là 4.730.000 x 2 tháng = 9.460.000 đồng.
Tổng số tiền bà Dương Lệ N yêu cầu Công ty TNHH P phải thanh toán tạm tính từ ngày bị cho nghỉ việc là ngày 01/10/2021 đến ngày 16/7/2024 bao gồm: (1) + (2) + (3) = 153.725.000 đồng + 32.540.000 đồng + 9.460.000 đồng = 195.725.000 đồng.
Tại phiên toà, nguyên đơn xin thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu khởi kiện như sau:
- Buộc Công ty TNHH P thanh toán tiền lương trong những ngày bà Dương Lệ N không được làm việc tạm tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 31/7/2024 là 4.730.000 x 34 tháng = 160.820.000 đồng.
- Buộc Công ty TNHH P thanh toán tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp cho bà Dương Lệ N trong thời gian bà N không được làm việc tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 31/7/2024 là: 4.730.000 x 21,5 x 34 tháng = 34.576.300 đồng.
- Nguyên đơn xin rút yêu cầu khởi kiện; Về việc buộc Công ty TNHH P phải bồi thường cho bà Dương Lệ N 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật tương đương số tiền là 4.730.000 x 2 tháng = 9.460.000 đồng.
- Nguyên đơn xin bổ sung yêu cầu khởi kiện; Về việc buộc Công ty TNHH P phải nhận bà Dương Lệ N trở làm việc tại Công ty TNHH P theo hợp đồng lao động đã giao kết.
Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P có ông Nguyễn Trọng N1 làm đại diện trình bày:
Đối với các yêu cầu trên của nguyên đơn, Công ty đề nghị Toà án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đây là tranh chấp liên quan đến việc đơn phương chấp dứt Hợp đồng lao động số 80110.03/HĐLĐ-PHD SG ngày 01/4/2021. Tranh chấp này đã được giải quyết bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật số 531/2022/LĐ-PT ngày 30/8/2022. Tại Bản án phúc thẩm này Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã đưa ra nhận định như sau: “Do nguyên đơn không yêu cầu bị đơn phải nhận người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết; Phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không được làm việc là có lợi cho bị đơn khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật. Đồng thời do nguyên đơn không kháng cáo bản án sơ thẩm. Để đảm bảo quyền lợi cho nguyên đơn, hội đồng xét xử nhận thấy cần phải buộc bị đơn trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng hai tháng tiền lương theo hợp đồng lao động theo yêu cầu khởi kiện ban đầu khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 41 Bộ luật lao động năm 2019”. Với nhận định này Toà án đã buộc Công ty phải trả thêm cho bà N một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo Hợp đồng lao động là 16.000.000 đồng. Để thi hành bản án nên Công ty đã thanh toán đủ cho bà Dương Lệ N số tiền là 16.000.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản trực tiếp vào tài khoản của bà N, có phiếu báo nợ ngày 03/10/2022. Hiện nay không có quy định nào của pháp luật buộc Công ty phải thực hiện trách nhiệm đối với việc Đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật lần thứ hai.
Về sổ bảo hiểm xã hội, Công ty Trách nhiệm hữu hạn P đã giao Sổ bảo hiểm xã hội cho bà Dương Lệ N. Bị đơn xác nhận mức lương để căn cứ đóng bảo hiểm cho bà N là 4.730.000 đồng.
Tại bản án lao động sơ thẩm số 13/2024/LĐ-ST Ngày 31-7-2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Buộc Công ty TNHH P có trách nhiệm thanh toán cho bà Dương Lệ N tiền lương trong những ngày bà Dương Lệ N không được làm việc tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 25/4/2022 là 32.164.000 (Ba mươi hai triệu một trăm sáu mươi bốn ngàn) đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Lệ N; Về việc yêu cầu Công ty TNHH P thanh toán cho bà Dương Lệ N tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp trong thời gian bà N không được làm việc tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 31/7/2024 là 34.576.300 đồng.
- Công ty TNHH P và bà Dương Lệ N có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp kể từ ngày 01/10/2021 đến ngày 25/4/2022 theo mức lương là 4.730.000 (Bốn triệu bảy trăm ba mươi ngàn) đồng; Cho Cơ quan Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Lệ N; Về việc buộc Công ty TNHH P Buộc Công ty TNHH P phải nhận bà Dương Lệ N trở làm việc tại Công ty TNHH P theo hợp đồng lao động đã giao kết.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Dương Lệ N; Về việc yêu cầu Công ty TNHH P bồi thường cho bà Dương Lệ N 02 tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật số tiền là 9.460.000 đồng.
- Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và quyền yêu cầu thi hành án của các đương sự.
Ngày 01/8/2024, nguyên đơn bà Dương Lệ N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 09/8/2024, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn bà Dương Lệ N có người đại diện theo ủy quyền là ông Hồ Đức T trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm yêu cầu bị đơn phải nhận bà N trở vào làm việc, thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc từ ngày 01/10/2021 đến ngày 31/7/2024 tính trên mức lương 8.000.000 đồng/tháng; Đóng BHXH, BHYT,BHTN từ ngày 01/10/2021 đến ngày 31/7/2024.
Bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P có người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Trọng N1 trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử sửa bản án sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán và Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng. Các đương sự thực hiện quyền, nghĩa vụ theo đúng quy định pháp luật. Đơn kháng cáo của đương sự nằm trong hạn luật định nên hợp lệ.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn. Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 13/2024/LÐ-ST Ngày 31/7/2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thành phố Hồ Chí Minh.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1]. Về tố tụng:
Ngày 01/8/2024, nguyên đơn bà Dương Lệ N kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và ngày 09/8/2024, bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Xét, kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Lệ N và kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P trong hạn luật định phù hợp khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự nên được chấp nhận.
[2]. Về nội dung:
- Xét Hợp đồng lao động số 80110.03/HĐLĐ-PHD SG ký ngày 01/4/2021 và Phụ lục hợp đồng lao động số 80110.01/PLHĐLĐ-PHD SG ký ngày 01/4/2021 giữa Công ty Trách nhiệm hữu hạn P và bà Dương Lệ N. Có nội dung thoả thuận chính sau: Công ty Trách nhiệm hữu hạn P và bà Dương Lệ N giao kết và thực hiện hợp đồng lao động không xác định thời hạn; L cơ bản là 4.730.000 đồng/tháng; Phụ cấp sinh hoạt là 3.270.000 đồng.
Ngày 01/10/2021, Công ty Trách nhiệm hữu hạn P thông báo chấm dứt Hợp đồng lao động với bà Dương Lệ N.
* Đối với các yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Hội đồng xét xử xét thấy:
- Tại biên bán lấy lời khai của đương sự của Tòa án nhân dân Quận 8 vào ngày 24/02/2022 (BL số 71) Có ghi nhận ý kiến của bà Dương Lệ N, về việc bà N không đồng ý trở lại làm việc cho Công ty, nay bà N yêu cầu được tiếp tục trở lại công ty làm việc là không có cơ sở chấp nhận và thời gian yêu cầu trả tiền lương trong những ngày không được làm việc và đóng BHXH, BHYT,BHTN chỉ tính đến ngày 24/2/2022, do đó việc bà N yêu cầu tính đến ngày 31/7/2024 là không có cơ sở chấp nhận.
- Đối với yêu cầu thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc tính trên mức lương 8.000.000 đồng/tháng. Tại đơn khởi kiện cũng như trong quá trình giải quyết cấp sơ thẩm thì bà N chỉ yêu cầu tính trên mức lương 4.730.000 đồng /tháng tại cấp phúc thẩm bà N yêu cầu tính trên mức lương 8.000.000 đồng là vượt qua yêu cầu việc yêu cầu khởi kiện và đồng thời theo hợp đồng thì mức lương của bà N là 4.730.000 đồng/tháng đo đó hội đồng xét xử chấp nhận mức lương 4.730.000 đồng/tháng để làm căn cứ tính tiền lương trong những ngày không được làm việc và mức đóng BHXH, BHYT, BHTN .
- Buộc Công ty P thanh toán tiền lương trong những ngày bà Dương Lệ N không được làm việc tính từ ngày 01/10/2021 đến ngày 24/02/2022 là 4.730.000 đồng x 04 tháng 24 ngày = 23.304.000 đồng.
- Công ty P và bà Dương Lệ N có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp kể từ ngày 01/10/2021 đến ngày 24/02/2022 theo mức lương là 4.730.000 đồng; Cho Cơ quan Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và bảo hiểm thất nghiệp;
- Đối với kháng cáo của bị đơn Công ty P đề nghị Hội đồng xét xử bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì lý do vụ án của bà N và công ty đã đước xét xử phúc thẩm vào ngày 30/8/2023 công ty đã thi hành án xong nên đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà N .
Hội đồng xét xử xét thấy: Tại Bản án sơ thẩm số 08/2022/LÐ-ST ngày 25/4/2022 của Toà án nhân dân Quận 8 và Bản án phúc thẩm số 531/2022/LÐ-PT ngày 30/8/2022 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh; Xác định Công ty P đơn phương chấm dứt Hợp đồng lao động số 80110.03/HĐLĐ-PHD SG ngày 01/4/20219 với bà Dương Lệ N là trái pháp luật; Buộc Công ty P SAIGON trả cho bà Dương Lệ N số tiền 16.000.000 đồng do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật. Tuy nhiên, tại 2 bản án trên bà N không yêu cầu bị đơn phải nhận bà N trở vào làm việc, thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc và đóng BHXH, BHYT, BHTN.
Như đã phân tích trên hội đồng xét xử chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn. Sửa một phần bản án sơ thẩm về thời gian thanh toán tiền lương trong những ngày không được làm việc và đóng BHXH, BHYT, BHTN.
Xét thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có cơ sở chấp nhận.
Do sửa bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử sẽ xác định lại nghĩa vụ nộp tiền án phí sơ thẩm và người kháng cáo không phải chịu án phí phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Khoản 2 Điều 148 và khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ điểm Điều 41; 42 Bộ luật lao động năm 2019;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Dương Lệ N và chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P.
- Sửa một phần bản án lao động sơ thẩm số 13/2024/LĐ-ST ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
- Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu khởi kiện của bà Dương Lệ N; Về việc yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn P bồi thường cho bà Dương Lệ N 02 (hai) tháng tiền lương do đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật số tiền là 9.460.000 (Chín triệu bốn trăm sáu mươi nghìn) đồng.
- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn P thanh toán tiền lương trong những ngày bà Dương Lệ N không được làm việc tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 đến ngày 24 tháng 02 năm 2022 là 4.730.000 (Bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn) đồng x 04 tháng 24 ngày = 23.304.000 (Hai mươi ba triệu ba trăm lẻ bốn nghìn) đồng.
- Công ty Trách nhiệm hữu hạn P và bà Dương Lệ N có nghĩa vụ đóng tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp kể từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 đến ngày 24 tháng 02 năm 2022 theo mức lương là 4.730.000 (Bốn triệu bảy trăm ba mươi nghìn) đồng; Cho Cơ quan Bảo hiểm xã hội theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và B1;
- Thời hạn thanh toán: Trả một lần kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Dương Lệ N về việc buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn P Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn P phải nhận bà Dương Lệ N trở làm việc tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn P theo hợp đồng lao động đã giao kết; Không chấp nhận thanh toán cho bà Dương Lệ N tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm tai nạn nghề nghiệp trong thời gian bà N không được làm việc tính từ ngày 01 tháng 10 năm 2021 đến ngày 31 tháng 7 năm 2024 là 34.576.300 (Ba mươi bốn triệu năm trăm bảy mươi sáu nghìn ba trăm) đồng; Không chấp nhận yêu cầu trả tiền lương trong những ngày không được làm việc và đóng BHXH, BHYT, BHTN từ ngày 25 tháng 02 năm 2022 đến ngày 31 tháng 7 năm 2024.
- Về án phí:
- - Về án phí lao động sơ thẩm: Công ty Trách nhiệm hữu hạn P phải chịu 699.120 (Sáu trăm chín mươi chín nghìn một trăm hai mươi) đồng.
- - Về án phí lao động phúc thẩm: Nguyên đơn bà Dương Lệ N và bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P không phải chịu. H lại cho bị đơn Công ty Trách nhiệm hữu hạn P số tiền tạm ứng ăn phí phúc thẩm 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0030247 ngày 15 tháng 8 năm 2024 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Út |
Bản án số 110/2024/LĐ-PT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Số bản án: 110/2024/LĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Lao động
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
