Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐẠI TỪ

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Quyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Lương Minh Côn
  • 2. Bà Đặng Thị Sinh

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thị Lê Na - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ngân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 10 năm 2024 tại Hội trường Toà án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:105/HSST ngày 10/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Hầu Tuấn A; tên gọi khác: Không; sinh năm 1998; ĐKHKTT: Xóm M, xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Cao Lan; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không; Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông: Hầu Quốc S, sinh năm 1966 ( đã chết) và Con bà: Hoàng Thị C, sinh năm 1968; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình.

- Tiền án: 01 tiền án: Tại Bản án số 104/HSST ngày 27/11/2018 của Tòa án nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên xử phạt Hầu Tuấn A 07 năm 6 tháng tù về tội: Trộm cắp tài sản, nộp ngân sách 50.000đ, án phí dân sự 3.471.000 đồng, trả bà Nguyễn Thị T 69.420.000 đồng. Chấp hành xong án phí ngày 22/01/2019. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/02/2024. Bản án chưa được xóa án tích.

- Tiền sự: Không

Bị can bị bắt tạm giam từ ngày 23/7/2024. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh T (có mặt tại phiên toà).

* Những người tham gia tố tụng khác:

- Bị hại: Anh Lê Văn T1, sinh năm 1994 (Vắng mặt có lý do)

Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

- Người làm chứng: + Anh Vũ Tú Nam A1, sinh năm 1993

Địa chỉ: Tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.

+ Anh Phạm Bá C1, sinh năm 1999

Địa chỉ: Xóm N, xã H, huyện P, tỉnh Thái Nguyên

+ Anh Vũ Đức L, sinh năm 2001

Địa chỉ: Tổ A, phường G, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên

( Anh N, anh C1, anh L vắng mặt)

+ Ông Lê Văn D, sinh năm 1961

Địa chỉ: Xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên

( Có mặt tại phiên toà)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 18/7/2024, Hầu Tuấn A cùng 03 nam thanh niên gồm: Vũ Tú Nam A1 (sinh năm 1993), Vũ Đức L (sinh năm 2000, em trai của N), cùng trú tại: Tổ A, phường G, thành phố T); Phạm Bá C1 (sinh năm 1999, trú tại: xóm N, xã H, huyện P, Thái Nguyên), đến nhà Lê Văn T1 (sinh năm 1994, trú tại: xóm A, xã T, huyện Đ) để Nam A1 đòi số tiền 14.000.000đồng anh T1 nợ trước đó. Khi đến nhà của T1 thì T1 không có nhà nên cả nhóm ngồi đợi ngoài cổng nhà T1. Đến khoảng 11h00' cùng ngày, ông Lê Văn D (sinh năm 1961 - bố của T1) đi làm về thì có mời cả nhóm vào nhà ngồi uống nước nói chuyện. Trong lúc mọi người ngồi nói chuyện thì Tuấn A đi xung quanh phòng khách nhà ông D thì phát hiện tại giường kê tại phòng khách có 01 chiếc ví để dưới gối, Tuấn A đã đi đến cầm chiếc ví và kiểm tra thấy trong ví có 01 thẻ căn cước công dân (CCCD) mang tên Lê Văn T1 và số tiền 3.000.000đ (gồm 5 tờ mệnh giá 500 nghìn, 2 tờ mệnh giá 200 nghìn, 01 tờ mệnh giá 100 nghìn). Tuấn A lấy toàn bộ số tiền 3.000.000đ giấu vào túi quần phía trước bên trái đang mặc. Sau đó Tuấn A lấy thẻ CCCD trong ví ra rồi đem CCCD và ví đến đặt lên bàn chỗ mọi người uống thấy vậy Nam A1 hỏi ông D cho Nam A1 cầm thẻ CCCD thì ông D không đồng ý thì lúc này Tuấn A tự cầm thẻ CCCD của T1 đi ra ngoài với mục đích sau đó đưa cho Nam A1. (ông D nhìn thấy như không ngăn cản do biết T1 và Tuấn A là bạn với nhau). Sau đó Tuấn A cầm thẻ CCCD của T1 và số tiền trộm cắp được rồi đi về nhà. Có được số tiền trên Hầu Tuấn A đã tiêu sài cá nhân hết.

Về phía anh Lê Văn T1 sau khi về nhà phát hiện bị trộm cắp số tiền trên, anh T1 nghi ngờ Tuấn A trộm cắp nên đã làm đơn trình báo Công an xã T giải quyết. Xét thấy vụ việc có dấu hiệu của tội phạm nên Công an xã T chuyển hồ sơ đến Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ để xác minh, xử lý theo thẩm quyền.

Ngày 19/7/2024, Vũ Tú Nam A1 giao nộp cho Cơ quan CSĐT - Công an huyện Đ tài liệu gồm:

  • + 02 (hai) giấy vay tiền (bản sao, do Lê Văn T1 lập);
  • + 01 Căn cước công dân mang tên Lê Văn T1.

Tại cơ quan điều tra, Hầu Tuấn A đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của anh T1 như đã nêu trên. Lời khai của bị cáo Hầu Tuấn A phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản xác định hiện trường, vật chứng đã thu giữ.

- Vật chứng của vụ án gồm:

  • + 01 (một) CCCD số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về TTXH - Bộ C2 cấp ngày 23/5/2024 mang tên Lê Văn T1
  • + 01 (một) chiếc ví giải da, màu xám của anh T1 hiện đang được lưu giữ và bảo quản tại Kho vật chứng của Chi cục THADS huyện Đ chờ xử lý.
  • + 02 (hai) giấy vay tiền do anh T1 giao nộp được lưu trong hồ sơ vụ án.

- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là anh Lê Văn T1 yêu cầu bị cáo Hầu Tuấn A phải bồi thường số tiền 3.000.000 đồng. Đến nay các bên chưa giải quyết xong.

Tại bản cáo trạng số 109/CT - VKSNDĐT ngày 8/10/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Hấu Tuấn A2 về tội “ Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, trong phần luận tội đối với bị cáo, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Hầu Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản"; Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt Hầu Tuấn A từ 15 (Mười lăm) tháng đến 18 (Mười tám) tháng tù; Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo và xử lý vật chứng theo quy định.

* Về phần dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho anh Lê Văn T1 theo quy định của pháp luật.

* Về án phí: Bị cáo Tuấn A phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Trong phần tranh luận: Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng, bị cáo Tuấn A đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, vật chứng thu được và các chứng cứ tài liệu khác được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại nhà anh Lê Văn T1 thuộc xóm A, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Hầu Tuấn A đã có hành vi trộm cắp của anh T1 số tiền 3.000.000 đồng (Bằng chữ: Ba triệu đồng). Số tiền trộm cắp được Tuấn A đã tiêu sài cá nhân hết. Về trách nhiệm dân sự các bên chưa giải quyết xong.

Hành vi nêu trên của Hầu Tuấn A đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3]. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đại Từ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ.

Nội dung điều luật quy định như sau:

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng... thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

[4]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu đối với tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có tiền án về tội “ Trộm cắp tài sản” chưa được xoá án tích và lại là thanh niên ham chơi, đua đòi, lười lao động do cần tiền để tiêu xài cá nhân nên đã đi vào con đường phạm tội.

- Đối chiếu các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo H thành khẩn khai báo, ăn năn hối lỗi về hành vi của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự

[5]. Về hình phạt: Xét về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo mới có tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp cần áp dụng mức hình phạt tù cách ly bị cáo Tuấn A ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội. Mức hình phạt mà vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là phù hợp và cần được chấp nhận.

Liên quan đến vụ án: Đối với Vũ Tú Nam A1, Vũ Đức L; Phạm Bá C1 là những người được Hầu Tuấn A đưa đến nhà anh Lê Văn T1 đòi tiền. Khi Hầu Tuấn A có hành vi lấy trộm tiền của anh T1 thì không bàn bạc, trao đổi với Nam A1, L, C1. Do vậy Nam A1, L, C1 không đồng phạm với Tuấn A về tội trộm cắp tài sản nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ không xem xét, xử lý đối với Nam A1, L, C1.

[6]. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đối với 01 (một) CCCD số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về TTXH - Bộ C2 cấp ngày 23/5/2024 mang tên Lê Văn T1; 01 (một) chiếc ví giải da, màu xám không liên quan vụ án, cần trả lại cho anh Lê Văn T1.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Lẽ ra cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Tuấn A nhưng bị cáo không có tài sản gì riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8] Về phần bồi thường thiệt hại: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự: Bị cáo tự nguyện đồng ý bồi thường cho anh Lê Văn T1 số tiền 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng) nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[9]. Về án phí: Bị cáo Tuấn A phải chịu án phí và quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự,

Tuyên bố: Bị cáo Hầu Tuấn A phạm tội “Trộm cắp tài sản

1. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt: Hầu Tuấn A: 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2024.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo.

2. Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại 01 (một) CCCD số [...] do Cục cảnh sát quản lý hành chính về TTXH - Bộ C2 cấp ngày 23/5/2024 mang tên Lê Văn T1; 01 (một) chiếc ví giải da, màu xám cho anh Lê Văn T1.

( Số vật chứng nêu trên đang được bảo quản tại kho của Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ. Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng số 96 ngày18/10/2024 giữa Cơ quan Công an huyện Đ và Chi cục thi hành án dân sự huyện Đại Từ).

3. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự: Buộc bị cáo Hầu Tuấn A có trách nhiệm bồi thường cho anh Lê Văn T1 số tiền 3.000.000 đồng ( Ba triệu đồng).

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành khoản tiền trên thì phải chịu lãi suất chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

4. Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/PL-UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án: Bị cáo Hầu Tuấn A phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm vào Ngân sách nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt bản án hoặc ngày niêm yết bản án theo quy định./.

Trường hợp Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 của Luật Thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TN;
  • - VKSND tỉnh TN;
  • - VKSND huyện Đại Từ;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện Đại Từ;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Thái Nguyên.
  • - Chi cục THADS huyện Đại Từ;
  • - Sở tư pháp tỉnh TN;
  • - UBND xã Phục Linh, huyện Đại Từ
  • - Bị cáo, bị hại, Người có QLNVLQ;
  • - Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phan Thị Quyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HSST ngày 25/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 110/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger