|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. |
Bản án số: 110/2024/HSST
Ngày: 08/07/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hạnh
Các Hội thẩm: Bà Bùi Thị Hạnh
Bà Đỗ Thị Sỹ Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Sơn - Thư ký Tòa án,Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 08 tháng 07 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 103/2024/TLST- HS ngày 12 tháng 06 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 205/2024/QĐXXST- HS ngày 24 tháng 06 năm 2024 đối với các bị cáo:
- DƯƠNG NGỌC D, sinh năm: 1982; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Tổ E, phường S, quận L, thành phố Hà Nội; Nơi ở: C tòa N khu đô thị S, phường P, quận L, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nhân viên công ty Đ1; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Dương Văn V; Con bà: Đỗ Thị Thúy H; Vợ: Nguyễn Thị H1; Có 02 con, lớn SN 2012, nhỏ SN 2017; Tiền án, tiền sự: Không; D1 chỉ bản số: 357 do Công an quận B lập ngày 30/09/2023; Bắt khẩn cấp ngày 26/9/2023 – Hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2023. Có mặt tại phiên tòa.
- ĐỖ BIÊN CƯƠNG, sinh năm: 1992; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Đội 10 thôn T, xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nhân viên công ty Đ1; Trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Đỗ Đức K; Con bà: Lại Thị Hiên; Vợ: Lê Thị Thu P; Có 02 con lớn SN 2013, nhỏ SN 2015; Tiền án, tiền sự: Không; D1 chỉ bản số: 358 do Công an quận B lập ngày 30/09/2023; Bắt khẩn cấp ngày 26/9/2023 – Hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2023. Có mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN ĐÌNH T, sinh năm: 1990; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số G ngõ E Đường L, phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Nhân viên Công ty Đ1; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Đình Q; Con bà: Lê Thị Bích Đ; Vợ: Âu Thị T1; Có 01 con SN 2019; Tiền án, tiền sự: Không; D1 chỉ bản số: 359 do Công an quận B lập ngày 30/09/2023; Bắt khẩn cấp ngày: 26/9/2023 – Hủy bỏ biện pháp tạm giữ và bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 04/10/2023. Có mặt tại phiên tòa.
- NGUYỄN VĂN S, sinh ngày: 1998; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số F V, phường T, thành phố H, tỉnh Hải Dương; Nghề nghiệp: Bảo vệ Công ty Đ1; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn H3; Con bà: Nguyễn Thị L; Tiền án, tiền sự: Không; D1 chỉ bản số: 185 do Công an quận B lập ngày 25/04/2024; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
- TRẦN NGỌC HIẾU, sinh ngày: 2000; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và nơi ở: Số C ngõ A K, phường K, quận B, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Bảo vệ Công ty Đ1; Trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Lê Ngọc H4(c); Con bà: Trần Thị Thanh B; Tiền án, tiền sự: Không; D1 chỉ bản số: 186 do Công an quận B lập ngày 25/04/2024; Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
-
Ban QLVH Dự án Grandeur Palace Giảng Võ
Do bà Trần Diệu T2 – Giám đốc là người đại diện theo pháp luật
Địa chỉ: A G, quận B, thành phố Hà Nội.
-
Công ty TNHH Đ1
Do ông Cao Đình T3 – Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật.
Địa chỉ: B T, phường A, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Ban QLVH Dự án, Công ty TNHH D3 vắng mặt tại phiên toà
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn S là nhân viên của Công ty Đ1, được giao nhiệm vụ trực tại bốt carparking (ca ngày) tại tầng hầm của tòa nhà G số A G, phường K, quận B, thành phố Hà Nội từ tháng 7/2023. Quá trình làm việc, S nhiều lần gặp chị Nguyễn Thị Vân H5 - SN: 1991, là nhân viên dạy bơi tại tầng 22 của Toà nhà, chị H5 thường xuyên đến tòa nhà nhưng hay quên thẻ gửi xe nên S chủ động bảo chị H5 đưa thẻ gửi xe theo tháng cho S giữ để mỗi khi chị H5 đến S sẽ tự dùng thẻ của H5 để quẹt cho xe của chị H5 ra vào. Chị H5 đã giao thẻ gửi xe máy của mình cho S giữ từ đầu tháng 7 năm 2023. Trong thời gian từ tháng 7 năm 2023 đến ngày 25/9/2023, ngoài việc quẹt thẻ cho chị H5 ra vào, S đã sử dụng thẻ gửi xe máy của chị H5 quẹt cho các xe máy, ô tô vãng lai đến tòa nhà và chiếm đoạt số tiền gửi xe đã thu được.
Ngày 25/9/2023, Nguyễn Đình T4 là chỉ huy trưởng mục tiêu bảo vệ tại tòa nhà G số A G phát hiện hành vi gian lận tiền gửi xe của S nên đã báo cáo cho Dương Ngọc D2 là giám đốc chi nhánh công ty Đ1 tại miền B biết. D2 gọi cho Đỗ Biên C là nhân viên giám sát của Công ty Đ1 để hẹn C cùng D2 đến tòa nhà G số A G giải quyết việc gian lận tiền của S. Khoảng 13h ngày 25/9/2023, D2 và C đến tòa nhà G số A G, lúc này S đang trực tại bốt carparking dưới hầm B1. D2 yêu cầu T4 phân cho nhân viên khác làm thay S rồi D2 cùng T4, C yêu cầu S vào Phòng an ninh của tòa nhà để giải quyết việc S gian lận tiền gửi xe. Khi S vừa bước vào phòng, D2 đi theo vào và dùng tay đấm vào ngực S khiến S ngã ra đất. D2 tiếp tục dùng tay, chân để đấm, đá nhiều lần vào người S, vừa đánh D2 vừa chửi và hỏi S về việc gian lận tiền gửi xe. S không thừa nhận hành vi gian lận tiền gửi xe nên D2 tiếp tục đấm, đá, túm tóc tát vào người S và hỏi về chiếc thẻ xe máy S sử dụng để gian lận tiền. Quá trình D2 đánh S thì C, T4 cùng có mặt trong phòng, T4 dùng áo mưa để che camera nhưng không che được. Sau đó, D2 yêu cầu T4 và C ra ngoài tìm chiếc thẻ S sử dụng. T4 ra ngoài tìm sau đó quay lại đọc đúng mã thẻ nên S đã thừa nhận hành vi gian lận chiếm đoạt tiền gửi xe của mình. D2 yêu cầu S viết bản tường trình, yêu cầu Trung lập biên bản vi phạm đối với S. T4 đi ra ngoài lấy giấy bút mang vào phòng cho S viết bản tường trình, Trung lập biên bản vi phạm đối với S. Quá trình viết, D2 và T4 yêu cầu S phải nộp tiền để khắc phục hậu quả. S lấy trong người ra 100.000 đồng, 01 căn cước công dân, 01 điện thoại di động và 01 chìa khoá xe máy để lên trên bàn, mở ứng dụng ngân hàng T8 trên điện thoại cho T4 và D2 xem, số dư tài khoản ngân hàng có số tiền 779.000 đồng. D2 yêu cầu S giao nộp toàn bộ các tài sản trên để bồi thường cho công ty nên S thao tác trên điện thoại di động thực hiện chuyển khoản 779.000 đồng đến tài khoản của T4. Sau khi lấy được tài sản của S, D2 bảo C đọc cho S viết giấy với nội dung S tự nguyện giao nộp các tài sản trên để bồi thường thiệt hại cho công ty. Sau khi S viết xong, T4 tát 01 phát vào mặt của S rồi đi ra khỏi phòng. Đến khoảng 16h10' cùng ngày, D2 quay lại phòng an ninh nói với S sẽ điều chuyển S sang làm tại mục tiêu khác cũng của Công ty Đ1 - địa chỉ 203 N - quận T để trừ dần tiền công vào số tiền mà S đã chiếm đoạt. Do có kế hoạch chuyển vị trí làm việc của S nên C, T4, D2 để S ngồi trong phòng an ninh chờ hết ca để bàn giao ca. Khoảng 18h00' cùng ngày, C gọi điện thoại cho H6 (nhân viên công ty Đ1 làm bảo vệ tại 203 Nguyễn Huy T5) đến đón S đi làm bảo vệ tại vị trí mới. Trước khi đi S làm thủ tục bàn giao ca với nhân viên thay S làm tại carparking, S chỉ cho C vị trí xe máy của S để tại hầm B1. Sau đó H6 chở S đi. Trên đường đi, S đã nhảy xuống khỏi xe máy và đến cơ quan Công an trình báo.
Quá trình điều tra, cơ quan điều tra xác định: Từ ngày 12/07/2023 đến ngày 25/09/2023, Nguyễn Văn S sử dụng thẻ gửi xe máy tháng của chị Nguyễn Thị Vân H5 để quẹt thẻ cho các xe máy, ô tô của khách vãng lai vào gửi xe tại hầm B1 của tòa nhà, thu tiền gửi xe của các chủ phương tiện nhưng cuối mỗi ca trực S không nộp tiền thu được từ việc gửi xe cho lễ tân Ban quản lý tòa nhà theo đúng quy định. Đối với xe ô tô, S thu 40.000 đồng/1 lượt, xe máy thu 5.000 đồng/1 lượt, xe đạp thu 3.000 đồng/1 lượt. Trong thời gian trên, S đã làm thất thoát của Công ty Đ1 số tiền 17.299.000 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Văn S còn hướng dẫn cho Trần Ngọc H7 làm ca đêm (từ 01/08/2023 đến ngày 25/09/2023) và Nguyễn Lê Anh P1 (làm ca đêm từ 12/07/2023 đến ngày 31/07/2023) sử dụng thẻ gửi xe máy theo tháng của chị Nguyễn Thị Vân H5 quẹt cho các xe máy, ô tô, xe đạp vãng lai đến gửi tại tòa nhà, thu tiền gửi xe với mức thu tương tự như S thu, và chiếm đoạt. Trong thời gian trên Trần Ngọc H7 đã làm thất thoát của Công ty Đ1 số tiền 6.528.000 đồng. Nguyễn Lê Anh P1 đã làm thất thoát số tiền 635.000đồng.
Đối với Nguyễn Lê Anh P1 số tiền chiếm đoạt chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính đối với P1 về hành vi chiếm đoạt tài sản.
- + Thu giữ của Dương Ngọc D2: 01 điện thoại di động Samsung S20FE màu xanh, imei1: 355728261370149, imei2:356203781370143, có lắp 02 sim.
- + Thu giữ của Đỗ Biên C: 01 điện thoại di động iphone XS Max màu vàng Imei: 357277094976928, có lắp sim, bị vỡ kính camera và kính mặt lưng sau; 01 xe máy nhãn hiệu Vemvipi màu trắng – nâu, BKS 34B2-7022 đã qua sử dụng.
- + Thu giữ của Nguyễn Đình T4: 01 điện thoại di động Galaxy A73 màu trắng, số imei1: 352828292164256; số imei2: 354462612164255, có lắp sim của Nguyễn Đình T4; 01 căn cước công dân tên Nguyễn Văn S; 01 điện thoại di động Realme X50 màu xanh, số imei 1: 80512040148374; số imei2: 860512040148336 của Nguyễn Văn S; 01 chìa khóa xe máy của Nguyễn Văn S; 879.000 đồng của Nguyễn Văn S; 02 bản tường trình của S, 01 bản tường trình của H7, 01 biên bản vi phạm của S.
- + Thu giữ của Nguyễn Lê Anh P1: 635.000 đồng là số tiền thu được của khách gửi xe Nguyễn Lê Anh P1 chiếm đoạt.
Các bị can Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C, Nguyễn Đình T4 đã đánh Nguyễn Văn S bằng tay chân gây ra 01 vết thương bị bầm tím dài 04 cm ở cùng thái dương bên trái, 01 vết rách môi trên bên phải, nhưng S từ chối giám định thương tích.
Bản kết luận định giá tài sản số 134 ngày 13/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản - Ủy ban nhân dân quận B, kết luận chiếc xe máy BKS 34B2-7022 đã qua sử dụng của Nguyễn Văn S trị giá 2.000.000 đồng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Realme X50 đã qua sử dụng của Nguyễn Văn S trị giá 1.000.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định xe máy BKS 34B2-7022 do S sử dụng là của ông Nguyễn Văn H3 (bố của S), ông H3 mua xe, đăng ký đứng tên ông và cho S mượn xe để đi lại, Cơ quan điều tra đã trả lại xe máy nêu trên cùng chìa khóa xe cho ông H3.
Cơ quan điều tra đã trả lại cho Nguyễn Văn S 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme X50 đã qua sử dụng và 01 căn cước công dân.
Bị can Dương Ngọc D2 đại diện Công ty Đ1 đã bồi thường cho Ban Q1 Giảng Võ số tiền bị thất thoát 24.462.000 đồng. Đại diện Công ty là chị Trần Diệu T6 đã nhận lại đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác.
Dương Ngọc D2 yêu cầu S, H7, P1 phải bồi thường cho D2 số tiền 24.462.000 đồng là số tiền S, H7, P1 làm thất thoát của Ban quản lý tòa nhà, D2 đã ứng tiền của cá nhân để bồi thường (trong đó S 17.299.000 đồng, H7 6.528.000 đồng, P1 635.000 đồng).
Chị Nguyễn Thị Vân H5 giao thẻ gửi xe theo tháng cho bị can Nguyễn Văn S, chị H5 không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị can nên Cơ quan điều tra không xử lý.
Cáo trạng số 100/CT-VKS ngày 31/05/2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình đã truy tố Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C, Nguyễn Đình T4 về tội Cướp tài sản theo Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015; truy tố Nguyễn Văn S, Trần Ngọc H7 về tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điểm a, Khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố như Cáo trạng đã nêu và đề nghị áp dụng: Khoản 1, điều 168 ; Điểm b,s, khoản 1, khoản 2 (Đối với các bị cáo D2, C, T4) ; Điểm a, Khoản 1, điều 175; Điểm b,s, khoản 1, điều 51 BLHS đối với bị cáo S ; Điểm b,i,s, khoản 1, điều 51 đối với bị cáo H7 ; Điều 65, điều 47 (đối với tất cả các bị cáo), đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt các bị cáo mức hình phạt như sau :
-
Dương Ngọc D2 từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 50 tháng đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Dương Ngọc D2 về Ủy ban nhân dân phường P, quận L, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Dương Ngọc D2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Dương Ngọc D2 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Dương Ngọc D2 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Đỗ Biên C từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 50 tháng đến 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Biên C về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Đỗ Biên C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Đỗ Biên C cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đỗ Biên C phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Nguyễn Đình T4 từ 30 tháng đến 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 50 tháng đến 50 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Đình T7 Ủy ban nhân dân phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Đình T4 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Đình T4 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Đình T4 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Nguyễn Văn S từ 09 tháng đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn S về Ủy ban nhân dân phường T, TP H, tỉnh Hải Dương để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Văn S cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Trần Ngọc H7 từ 06 tháng đến 08 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Ngọc H7 về Ủy ban nhân dân phường K, quận B, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Trần Ngọc H7 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Ngọc H7 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Ngọc H7 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc D2 01 điện thoại di động Samsung S20FE màu xanh, imei1: 355728261370149, imei2:356203781370143, gắn sim 1: 0963218322; sim 2: 0973685307 đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Đỗ Biên C 01 điện thoại di động iphone XS Max màu vàng Imei: 357277094976928, gắn sim: 0352863336, đã qua sử dụng, bị vỡ kính camera và kính mặt lưng sau; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình T4 01 điện thoại di động Galaxy A73 màu trắng, số imei1: 352828292164256; số imei2: 354462612164255, gắn sim: 0974491990 đã qua sử dụng. Theo biên bàn bàn giao số 160 ngày 19/06/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Ban Q2 đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì khác nên không xét.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S hoàn trả lại số tiền bị cáo đã làm thất thoát do Dương Ngọc D2 đại diện là 17.299.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Ngọc H7 hoàn trả lại số tiền bị cáo đã làm thất thoát do Dương Ngọc D2 đại diện là 6.528.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc D2 số tiền 635.000 đồng thu của Nguyễn Lê Anh P1; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền bị chiếm đoạt là 879.000 đồng. Theo giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án quận Ba Đình vào ngày 14/06/2024 tại Ngân hàng TMCP C1.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
[1]. Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ, đủ cơ sở kết luận: Do phát hiện bị can Nguyễn Văn S gian lận chiếm đoạt tiền gửi xe tại tòa nhà G số A G, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. Khoảng 13 giờ ngày 25/9/2023, tại Phòng an ninh của tòa nhà, bị can Dương Ngọc D2 có hành vi dùng tay, chân đấm, đá nhiều lần vào người S, Dương Ngọc D2 và Nguyễn Đình T4 yêu cầu S phải nộp tiền để khắc phục hậu quả, Đỗ Biên C đọc cho S viết giấy với nội dung S tự nguyện giao nộp các tài sản cá nhân của S để bồi thường cho Công ty Đ1. Do bị đánh nên S buộc phải viết giấy và nộp tiền, tài sản theo yêu cầu của D2, C, T4. Các bị can Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C, Nguyễn Đình T4 đã chiếm đoạt của Nguyễn Văn S tổng số 3.879.000 đồng.
Bị can Nguyễn Văn S và bị can Trần Ngọc H7 là nhân viên của công ty Đ1 được giao nhiệm vụ trực tại bốt carparking dưới tầng hầm B1 tòa nhà G số A G, phường K, quận B, thành phố Hà Nội. S và H7 đã sử dụng thẻ gửi xe máy theo tháng của chị Nguyễn Thị Vân H5 quẹt cho các xe máy, ô tô, xe đạp vãng lai đến gửi tại tầng hầm tòa nhà, thu tiền gửi xe và chiếm đoạt số tiền này. Nguyễn Văn S đã làm thất thoát của Công ty Đ1 số tiền 17.299.000đồng. Trần Ngọc H7 đã làm thất thoát của Công ty Đ1 số tiền 6.528.000đồng.
[2]. Hành vi của các bị cáo D2, C và T4 đã dùng tay chân đấm đá doạ S bắt viết giấy nộp tiền để khắc phục hậu quả cho hành vi chiếm đoạt tiền trông xe của bị cáo S, H7 và P1. Viện kiểm sát nhân dân quận Ba Đình, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C và Nguyễn Đình T4 về tội Cướp tài sản theo Khoản 1, Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015; Truy tố bị cáo Nguyễn Văn S và Trần Ngọc H7 về tội Lạm dụng chiếm đoạt tài sản theo Điểm a, Khoản 1, Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015, là có căn cứ, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử là những người tiến hành tố tụng thấy thật đáng tiếc cho hành vi của các bị cáo D2, C và T4 do thực hiện nhiệm vụ quản lý người lao động của công ty, do sự hiểu biết nhận thức về hành vi phạm tội theo quy định của pháp luật còn hạn chế, do nôn nóng muốn đòi lại số tiền mà S đã chiếm đoạt của Công ty Đ1 đã có hành vi đánh và bắt bị cáo S đưa tiền và viết giấy nhận trả lại tiền cho công ty. Còn phía bị cáo S, H7 do hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công ty là nguyên nhân dẫn đến các bị cáo D2, C và T4 phạm tội chứ không cố ý hay chủ định cướp tài sản của bị cáo S.
[3]. Xét hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, tạo dư luận bất bình, bức xúc đối với người bị hại. Đối với bị cáo D2, C và T4 là người thuộc công ty Đ1 được giao nhiệm vụ quản lý nhân viên trông giữ xe tại BQL dự án Grandeur Palace, do S, H7 và P1 đã này ra ý định lấy thẻ xe máy của chị H5 là khách thường xuyên đến gửi xe để thu tiền gửi xe của khách chiếm đoạt tiền của công ty để sử dụng tiêu xài cho cá nhân. Khi bị Công ty phát hiện thì D2, C và T4 là những người quản lý trực tiếp nhân viên thu vé tại BQL dự án Tòa nhà A G đã đến gặp S và đã có hành vi đánh S bắt ghi giấy nhận trả tiền thu điện thoại, tiền và chìa khoá xe máy. Do vậy, các bị cáo D2, C và T4 là đồng phạm cùng giúp sức trong vụ việc này nên các bị cáo sẽ cùng hưởng mức án ngang nhau. Ngoài ra, các bị cáo S có hành vi rủ bị cáo H7 và P1 cùng thực hiện hành vi thu tiền vé gửi xe để chiếm đoạt chi tiêu riêng cho bản thân nên bị cáo S sẽ chịu hình phạt cao hơn bị cáo H7. Còn đối với P1 số tiền chiếm đoạt chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự nên cơ quan điều tra đã xử lý hành chính.
HĐXX xem xét khi lượng hình về tính chất, mức độ cũng như nhân thân của các bị cáo; Các bị cáo đều có hoàn cảnh gia đình khó khăn và nhận thức về hành vi còn bị hạn chế. Các bị cáo S, H7 thực hiện hành vi phạm tội với động cơ mục đích lấy tiền tiêu sài cho bản thân là nguyên nhân dẫn đến các bị cáo D2, C và T4 phạm tội Cướp vì muốn nhanh chóng lấy lại tài sản cho Công ty, vì vậy việc đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết và cần phải có một bản án nghiêm khắc.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử cũng xem xét quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải; các bị cáo lần đầu phạm tội. Bị cáo D2, C và T4 sau khi phạm tội đã cùng nhau góp tiền do D2 đại diện Công ty Đ1 để bồi thường trả cho BQL dự án. BQL dự án đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì về bồi thường. Bị cáo H7 tại phiên toà cũng tự nguyện trả lại cho bị cáo D2 là người đại diện đứng ra trả tiền cho BQL dự án số tiền 6.528.000 đồng. Bị cáo S hứa sẽ trả lại cho bị cáo D2 là người đại diện đứng ra trả cho B1 dự án số tiền 17.299.000 đồng. Tài sản do D2, C và T4 cướp của S đã được thu hồi để trao trả cho người bị hại. Các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn có nơi cư trú rõ ràng, đặc biệt các bị cáo D2, C và T4 đều không có mục đích cố ý cướp tài sản của S để làm căn cứ giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo cũng có tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b,i,s, khoản 1, khoản 2, điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Áp dụng Điều 123 Bộ luật tố tụng hình sự: Áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C, Nguyễn Đình T4, Nguyễn Văn S và Trần Ngọc H7 45 ngày kể từ ngày tuyên án.
Do các bị cáo đều có hoàn cảnh khó khăn nên miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
[4]. Xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc D2 01 điện thoại di động Samsung S20FE màu xanh, imei1: 355728261370149, imei2:356203781370143, gắn sim 1: 0963218322; sim 2: 0973685307 đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Đỗ Biên C 01 điện thoại di động iphone XS Max màu vàng Imei: 357277094976928, gắn sim: 0352863336, đã qua sử dụng, bị vỡ kính camera và kính mặt lưng sau; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình T4 01 điện thoại di động Galaxy A73 màu trắng, số imei1: 352828292164256; số imei2: 354462612164255, gắn sim: 0974491990 đã qua sử dụng. Theo biên bàn bàn giao số 160 ngày 19/06/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S hoàn trả lại số tiền bị cáo đã làm thất thoát do Dương Ngọc D2 đại diện là 17.299.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Ngọc H7 hoàn trả lại số tiền bị cáo đã làm thất thoát do Dương Ngọc D2 đại diện là 6.528.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc D2 số tiền 635.000 đồng thu của Nguyễn Lê Anh P1; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền bị chiếm đoạt là 879.000 đồng. Theo giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án quận Ba Đình vào ngày 14/06/2024 tại Ngân hàng TMCP C1.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Ban QLDA Grandeur Palace đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên tòa không xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Các bị cáo Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C, Nguyễn Đình T4 phạm tội Cướp tài sản. Các bị cáo Nguyễn Văn S, Trần Ngọc H7 phạm tội Lạm dụng chiếm đoạt tài sản.
Áp dụng: Khoản 1, điều 168; Điểm b,s, khoản 1, khoản 2, điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C, Nguyễn Đình T4; Điểm a, Khoản 1, điều 175; Điểm b,s, khoản 1, điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Nguyễn Văn S; Điểm a, Khoản 1, điều 175; Điểm b,i,s, khoản 1, điều 51; Điều 65; Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đối với bị cáo Trần Ngọc H7.
- Điều 136,331,333 Bộ luật tố tụng hình sự 2015
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt:
-
Dương Ngọc D2 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Dương Ngọc D2 về Ủy ban nhân dân phường P, quận L, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Dương Ngọc D2 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Dương Ngọc D2 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Dương Ngọc D2 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Đ2 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Đỗ Biên C về Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện G, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Đỗ Biên C thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Đỗ Biên C cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Đỗ Biên C phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Nguyễn Đình T4 36 (Ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 60 (Sáu mươi) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Đình T4 về Ủy ban nhân dân phường L, quận Đ, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Đình T4 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Đình T4 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Đình T4 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Nguyễn Văn S 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Văn S về Ủy ban nhân dân phường T, TP H, tỉnh Hải Dương để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Nguyễn Văn S thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Nguyễn Văn S cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Nguyễn Văn S phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
-
Trần Ngọc H7 06 (Sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời hạn thử thách 12(Mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Trần Ngọc H7 về Ủy ban nhân dân phường K, quận B, thành phố Hà Nội để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách của bản án.
Trong trường hợp bị cáo Trần Ngọc H7 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, bị cáo Trần Ngọc H7 cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Trần Ngọc H7 phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
Xử lý vật chứng:
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc D2 01 điện thoại di động Samsung S20FE màu xanh, imei1: 355728261370149, imei2:356203781370143, gắn sim 1: 0963218322; sim 2: 0973685307 đã qua sử dụng; Trả lại cho bị cáo Đỗ Biên C 01 điện thoại di động iphone XS Max màu vàng Imei: 357277094976928, gắn sim: 0352863336, đã qua sử dụng, bị vỡ kính camera và kính mặt lưng sau; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Đình T4 01 điện thoại di động Galaxy A73 màu trắng, số imei1: 352828292164256; số imei2: 354462612164255, gắn sim: 0974491990 đã qua sử dụng. Theo biên bàn bàn giao số 160 ngày 19/06/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn S hoàn trả lại số tiền bị cáo đã làm thất thoát do Dương Ngọc D2 đại diện là 17.299.000 đồng.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Trần Ngọc H7 hoàn trả lại số tiền bị cáo đã làm thất thoát do Dương Ngọc D2 đại diện là 6.528.000 đồng.
Trả lại cho bị cáo Dương Ngọc D2 số tiền 635.000 đồng thu của Nguyễn Lê Anh P1; Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn S số tiền bị chiếm đoạt là 879.000 đồng. Theo giấy nộp tiền vào tài khoản Chi cục Thi hành án quận Ba Đình vào ngày 14/06/2024 tại Ngân hàng TMCP C1.
[5]. Về trách nhiệm dân sự: Ban QLDA Grandeur Palace đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu bồi thường gì khác nên tòa không xét.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
|
Nơi nhận:
|
TM. Hội đồng xét xử sơ thẩm Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thúy Hạnh |
Bản án số 110/2024/HSST ngày 08/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về cướp tài sản và lạm dụng chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 110/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản và Lạm dụng chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BA ĐÌNH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Các bị cáo Dương Ngọc D2, Đỗ Biên C, Nguyễn Đình T4 phạm tội Cướp tài sản. Các bị cáo Nguyễn Văn S, Trần Ngọc H7 phạm tội Lạm dụng chiếm đoạt tài sản.
