Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TUY PHONG

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST.

Ngày: 31-10-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiêm Uyên

Các Hội thẩm nhân dân: + Ông Nguyễn Trọng Di

+ Ông Phạm Hồng Sơn.

-Thư ký phiên tòa: Bà Mai Bích Hà Vy – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong tham gia phiên tòa: Ông Hứa Hải Dương – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn R; Sinh ngày: 21/01/2005, tại tỉnh Bình Thuận; Giới tính: Nam; Nơi cư trú: khu phố M, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn C, sinh năm 1973 (đã chết), Mẹ: Nguyễn Thị S, sinh năm 1974; A, chị, em ruột: 02 người, lớn sinh năm 1996, nhỏ sinh năm 1999; Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không

Hoạt động nhân thân:

Tại bản án số 152/2022/HS-ST ngày 28/10/2022 của Tòa án nhân dân quận 1, thành phố Hồ Chí Minh tuyên phạt Nguyễn Văn R 09 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”. Đến ngày 17/4/2023 thì chấp hành xong hình phạt tù về cư trú tại địa phương. (đã được xóa án tích)

Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)

- Bị hại: Ngô Thị Ngọc T, sinh năm 1994; Nơi cư trú: khu phố T, thị trấn P, huyện T, tỉnh Bình Thuận; (có đơn xin xét xử vắng mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Nguyễn Đình N, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Thôn A, xã P, huyện B, tỉnh Bình Thuận. (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng nên Nguyễn Văn R nảy sinh ý định tìm tài sản trộm cắp để mua ma túy, R đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 lần. Cụ thể:

Lần 01: Khoảng 01 giờ ngày 11/5/2024, R đi bộ ra khu vực chợ P thuộc khu phố G, thị trấn P Cửa tìm các cây dù làm bằng sắt lấy trộm để bán. Khi R đi đến Chợ P thì nhìn thấy phía trước K có dựng một số cây dù sắt không có người trông coi. R lén lút đi đến lấy trộm 02 cây dù làm bằng sắt (không có đế) và lấy 01 khung bằng sắt dài (1,20 x 01)m nặng khoảng 08kg. R vác 02 cây dù trên vai, tay cầm khung sắt đi bộ đến vựa phế liệu của Hồ Văn T1 sinh năm 1974 tại khu vực đa khoa Phan Rí C1 bán với giá 90.000 đồng. R lấy tiền mua ma túy sử dụng hết.

Lần 2: Khoảng 19 giờ ngày 11/5/2024, Nguyễn Đình N (bạn của R) đi đến thị trấn P, huyện T để chơi sau đó N xin ngủ lại. Đến khoảng 01 giờ ngày 12/5/2024, R rủ N đi tìm hàng quán nào còn bán thì mua đồ ăn nhưng không có. Trên đường đi về thì R và N đi đến khu vực chợ P Phan Rí C1 đến K số 6 của nhìn thấy 01 cây dù bằng sắt dài khoảng 02m, nặng khoảng 30kg và một xe đẩy hàng bằng sắt có 04 bánh cao su dài khoảng 1,80m, rộng 60cm. R rủ N sau đó cả hai lén lút lấy trộm cây dù của T sau đó để lên xe đẩy hàng, R và Như đẩy đi đến khu vực H tìm nơi bán, trên đường đi R và N lột miếng che dù ra vứt bỏ. Do không tìm được nơi bán nên R và N đẩy xe hàng và cây dù bằng sắt cất giấu vào bụi cây tại khu vực quán C2 thuộc khu phố P, thị trấn P. Trên đường R và N đi về thì bị Công an thị trấn Phan Rí C1 phát hiện mời R và N về trụ sở làm việc. Quá trình làm việc R và N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thu giữ tang vật.

Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 126/KL/HĐĐG ngày 23.7.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tó tụng hình sự huyện T kết luận: Đối với tài sản thu hồi được: 01 cây dù bằng sắt cao 2,25m; đế dù bằng mâm xe kích thước (58x22)cm có giá trị: 1.200.000 đồng/cây x 60% = 720.000 đồng; Xe đẩy hàng bằng sắt có 04 bánh nhựa, xe dài 1,56, ngang 46cm, cao 30cm có giá trị: 1.000.000 đồng/chiếc x 80% = 800.000 đồng. Đối với với tài sản chưa thu hồi được: 02 cây dù có chiều cao 2m có giá trị: 800.000 đồng/cây x 2 x 80%= 1.280.000 đồng; 01 khung sắt (1,2x1) m có giá trị: 500.000 đồng/khung x 80% = 400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá: 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm ngàn đồng).

Về tang vật chứng: Sau khi định giá tài sản, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã trao trả lại 01 xe đẩy hàng và 01 cây dù không có vải bạt, chỉ còn khung kim loại cho bị hại Ngô Thị Ngọc T.

Về trách nhiệm dân sự: Ngô Thị Ngọc T không có yêu cầu bồi thường về phần dân sự nên không xem xét, giải quyết.

Tại Bản Cáo trạng số 106/CT-VKSTP-HS, ngày 04 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố Nguyễn Văn R về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn R từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

- Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Văn R và Nguyễn Đình N cùng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên ngày 12/5/2024, R và N trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng, N chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi của N không cấu thành tội phạm đã chuyển hồ sơ xử lý hành chính.

- Bị hại có đơn xin xét xử vắng mặt; Về dân sự: Bị hại Ngô Thị Ngọc T không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại; Về hình sự: yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Văn R thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố bị cáo là đúng, không oan, bị cáo đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Phong, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn R không có ý kiến, cũng như không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện, đều hợp pháp.
  2. Về chứng cứ buộc tội bị cáo: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Nguyễn Văn R là đối tượng nghiện ma túy do cần tiền mua ma túy sử dụng nên vào khoảng 01 giờ sáng ngày 11/5/2024 tại Kiốt số 6 thuộc chợ thị trấn P thuộc khu phố G, thị trấn P, huyện T, R lén lút trộm 02 cây dù làm bằng sắt (không có đế) và 01 khung bằng sắt dài (1,20 x 01)m nặng khoảng 08kg của Ngô Thị Ngọc T, tiếp đến 19 giờ ngày 12/5/2024 cũng tại Kiốt số 6 thuộc chợ thị trấn P thuộc khu phố G, thị trấn P, huyện T, R cùng Nguyễn Đình N lén lút trộm cắp 01 cây dù bằng sắt dài khoảng 02m, nặng khoảng 30kg và một xe đẩy hàng bằng sắt có 04 bánh cao su dài khoảng 1,80m, rộng 60cm của Ngô Thị Ngọc T thì bị phát hiện bắt giữ.

    Tại biên bản và bản kết luận định giá tài sản số 126/KL/HĐĐG ngày 23.7.2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tó tụng hình sự huyện T kết luận:

    Đối với tài sản thu hồi được: 01 cây dù bằng sắt cao 2,25m; đế dù bằng mâm xe kích thước (58x22)cm có giá trị: 1.200.000 đồng/cây x 60% = 720.000 đồng; Xe đẩy hàng bằng sắt có 04 bánh nhựa, xe dài 1,56, ngang 46cm, cao 30cm có giá trị: 1.000.000 đồng/chiếc x 80% = 800.000 đồng.

    Đối với với tài sản chưa thu hồi được: 02 cây dù có chiều cao 2m có giá trị: 800.000 đồng/cây x 2 x 80%= 1.280.000 đồng; 01 khung sắt (1,2x1) m có giá trị: 500.000 đồng/khung x 80% = 400.000 đồng. Tổng giá trị tài sản định giá: 3.200.000 đồng (ba triệu hai trăm ngàn đồng).

    Vì vậy, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn R phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là hoàn toàn đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.

    Vụ án có đồng phạm nhưng thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, trong đó Nguyễn Văn R và Nguyễn Đình N cùng thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên riêng ngày 12/5/2024, R và N trộm cắp tài sản có giá trị dưới 2 triệu đồng, N chưa có tiền án, tiền sự về hành vi chiếm đoạt tài sản nên hành vi của N không cấu thành tội phạm.

  3. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn R là người đã trưởng thành nên có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận biết hành vi lén lút trộm cắp tài sản là xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác nhưng do nghiện ngập, muốn có tiền để tiêu xài cho cá nhân mà không phải lao động nên đã thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo là trái pháp luật, có tính chất nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây hoang mang lo lắng cho cộng đồng dân cư.
  4. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân không tốt, là đối tượng nghiện ma túy tại địa phương, đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt tài sản; Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017); Quá trình điều tra vụ án và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) vì vậy, Hội đồng xét xử sẽ cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.

    Với tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, trên cơ sở cân nhắc các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy rằng cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, đồng thời phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.

  5. Về trách nhiệm dân sự trong vụ án: Bị hại không có yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

    Riêng đối với Nguyễn Đình N trộm cắp dưới định lượng để cấu thành tội phạm, Cơ quan cảnh sát điều tra có công văn số 538/CV-CAH ngày 23/9/2024 chuyển đến Công an huyện T đề nghị xử lý vi phạm hành chính theo quy định pháp luật.

  6. Lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, điều luật áp dụng và mức hình phạt là có căn cứ, phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
  7. Bị cáo Nguyễn Văn R phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn R phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn R 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

Áp dụng: Khoản 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Văn R phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31-10-2024). Bị hại; Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc niêm yết Bản án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • -VKSND huyện Tuy Phong;
  • -CA huyện Tuy Phong;
  • -THADS huyện Tuy Phong;
  • -Sở tư pháp tỉnh Bình Thuận;
  • -Bị cáo; Bị hại;
  • -Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan;
  • -Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Kiêm Uyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN về trộm cắp tài sản (hình sự)

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY PHONG - TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào: Điều 268, Điều 269 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn R phạm tội: “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn R 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger