Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ MÓNG CÁI

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 22 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Trần Thị Thu Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Hảo
  • 2. Ông Phạm Quốc Hưng

Thư ký phiên tòa: bà Vũ Tú Uyên, thư ký Toà án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái tham gia phiên toà: ông Bùi Đình Thi, Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2024/TLST-HSST ngày 18 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2024/HSST-QĐ ngày 15 tháng 11 năm 2024; đối với các bị cáo:

1/ Họ và tên: Nguyễn Hải A, tên gọi khác: không, sinh ngày 26 tháng 9 năm 1997, tại Đ, Quảng Ninh. Nơi đăng ký thường trú: khu X, phường X, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: Tầng H, B, chung cư G, số B đường L, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H và bà Đặng Thị T; vợ: Nguyễn Hồng N; con: 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024. Hiện tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố M. Có mặt.

2/ Họ và tên: Hoàng Mai Ngọc Á, tên gọi khác: không, sinh ngày 08 tháng 6 năm 2000, tại T, Quảng Ninh. Nơi ở: số nhà B, đường N, phường H (nay là phường T), thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa:11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; bố nuôi Hoàng Văn B và mẹ nuôi bà Mai Kim D; chồng: Nguyễn Gia T1 (đã ly hôn), con: 01 con, sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024. Hiện tạm giam nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt.

3/ Họ và tên: Nguyễn Đức L, tên gọi khác: không, sinh ngày 03 tháng 11 năm 2000, tại Đ, Quảng Ninh. Nơi đăng ký thường trú: khu X, phường X, thị xã Đ (nay là thành phố Đ), tỉnh Quảng Ninh; nơi ở: tầng 8, B, chung cư G, số B đường L, phường N, quận T, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức H và bà Đặng Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/5/2024. Hiện tạm giam nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt.

4/ Họ và tên: Lê Nguyễn Trung K, tên gọi khác: không, sinh ngày 26 tháng 4 năm 1999, tại A, Hải Phòng. Nơi đăng ký thường trú: xóm A, thôn K, xã Q, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi ở: số C đường N, khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Tiếp C và bà Nguyễn Thị N1; vợ: Nguyễn Thị N2, con: 02 con, con lớn sinh năm 2018, con bé sinh năm 2021. Tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ, tạm giam ngày 19/7/2024. Hiện tạm giam nhà tạm giữ Công an thành phố Móng Cái. Có mặt.

  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty Cổ phần S1; Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Đức H, chức vụ: Giám đốc. Vắng mặt
  • - Người làm chứng: anh Hà Ngọc Phúc Đ, anh Trần Xuân T2.
  • Đều vắng mặt
  • - Người chứng kiến: chị Phạm Thị D1, ông Nguyễn Thanh X.
  • Đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 01 giờ ngày 24/5/2024, Nguyễn Hải A điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, biển kiểm soát (BKS): 29A - 057.94 chở theo em trai ruột là Nguyễn Đức L đi từ Hà Nội đến Hải Phòng đón Hà Ngọc Phúc Đ, rồi đến thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh để đón Trần Xuân T2 cùng đi ra thành phố M, tỉnh Quảng Ninh chơi. Khoảng 08 giờ cùng ngày, cả nhóm đến nơi và thuê phòng 302 khách sạn H1 thuộc khu D, phường K, thành phố M để nghỉ ngơi.

Đến khoảng 01 giờ ngày 25/5/2024, Hải A gọi điện cho Hoàng Mai Ngọc Á nhờ đặt bàn cho cả nhóm uống bia và nghe nhạc tại quán bar “Lin Lounge 79" thuộc xã H, thành phố M, khi đến cả nhóm vào bàn “Vip 4” và gọi Á vào uống bia cùng. Đến khoảng hơn 02 giờ cùng ngày, Hải A rủ mọi người sử dụng ma túy “nước vui” thì cả nhóm đồng ý. Sau đó, Hải A nhờ Á mua ma túy giúp, Á đồng ý và liên hệ với Lê Nguyễn Trung K để đặt mua 01 túi “nước vui”. K báo giá cho Á là 4.000.000 đồng, Á báo giá lại cho Hải A biết, Hải A bảo L chuyển 4.000.000 đồng từ số tài khoản ngân hàng của L sang tài khoản ngân hàng của Hải A. Sau đó Hải A chuyển số tiền trên vào tài khoản ngân hàng của Lê Nguyễn Trung K. Chuyển xong, Hải A điều khiển xe ô tô BKS 29A - 057.94 chở Á đến khu vực ngã 5 thuộc khu H, phường N để nhận ma túy. Đến nơi, K đi xe mô tô đến giao túi “nước vui” cho Á, Á cầm túi “nước vui” đưa lại cho Hải A rồi hai người quay lại quán Bar. Hải Anh pha “nước vui” với nước cô ca trong chai nhựa rồi đổ ra cốc cho Hải A, Á, L, T2 và Đ cùng sử dụng hết bằng hình thức uống.

Đến khoảng 03 giờ cùng ngày, quán Bar "Lin Lounge” đóng cửa, Á rủ tất cả về quán Karaoke “OLALA” thuộc phường T, thành phố M, để tiếp tục sử dụng ma túy thì được cả nhóm đồng ý. Sau đó, tất cả lên xe ô tô của Hải A điều khiển đi về quán Karaoke “OLALA” và vào phòng “5555”. Tại đây, Hải A rủ cả nhóm mua ma túy Ketamine để sử dụng tại phòng hát thì tất cả đồng ý. Lúc này, Á liên hệ hỏi K thì được K đồng ý bán 01 gam Ketamine với giá 2.000.000 đồng. Á nói lại cho Hải A biết thì Hải A bảo L chuyển tiền cho K. Khoảng 04 giờ 30 phút cùng ngày L chuyển 2.000.000 đồng trực tiếp vào tài khoản của K để trả tiền mua ma tuý. Sau đó, Hải A điều khiển xe ô tô chở Á đến ngã 5 N để nhận ma túy từ K. Sau khi mua được ma túy, Hải A và Á quay quán "OLALA”. Tại đây, Á đổ túi ma túy ketamine ra tờ tiền 2.000 đồng, gấp lại rồi miết nhỏ ma túy bên trong tờ tiền. Tiếp đó, Á cuộn tờ tiền 20.000 đồng làm ống hút và mời mọi người trong phòng sử dụng Ketamine bằng hình thức hít qua đường mũi. Sau khi cả nhóm sử dụng hết thì 01 người phụ nữ là bạn của Á (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến chơi cùng. Thấy có thêm người, Hải A bảo L chuyển tiền vào tài khoản của Hải A để mua thêm 02 gam ketamine cho mọi người sử dụng.

Khoảng 06 giờ 20 phút cùng ngày, L chuyển cho Hải A 4.000.000 đồng rồi Hải A chuyển tiếp tiền cho K. Chuyển xong, Hải A lại tiếp tục điều khiển xe ô tô chở Á đến ngã 5 N gặp K để lấy ma túy. Lần này K chỉ dẫn cho Á đến khu vực kho của cảng Q thuộc khu H, phường N thì K mặc áo mưa ra giao ma túy cho Á. Sau khi mua được 02 túi ma túy Ketamine Hải A1 và Á quay lại phòng hát tại quán “OLALA”. Tại đây, Á tiếp tục đổ một túi Ketamine ra tờ 2.000 đồng cho mọi người trong phòng sử dụng. Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày, còn 01 túi Ketamine và một ít ma túy trong tờ tiền Á đưa cho Hải A1 cất giữ rồi cùng bạn ra về trước. Sau đó, L thanh toán tiền hát rồi Hải A1 điều khiển xe chở L, T2, Đ về phòng 302 khách sạn H1 để nghỉ ngơi. Tại đây Hải A1 bỏ số ma túy đựng trong tờ tiền 2.000 đồng và ống hút mà Á đưa cho từ quán hát ra tự sử dụng, còn túi Ketamine Hải A1 để xuống ghế. Sau khi Hải A1 sử dụng xong thì L cũng tự hít một hơi Ketamine, T2 và Đ không sử dụng.

Đến khoảng 08 giờ 45 phút cùng ngày, Công an thành phố M kiểm tra hành chính và phát hiện, thu giữ, tạm giữ vật chứng, đồ vật, tài sản gồm: 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có khóa kẹp nhựa, kích thước (2,5x2)cm, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng nghi là ma túy (M1); 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bên trong chứa chất bột màu trắng nghi là ma túy (M2) và 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn, bên trong bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy dạng vết (M3) để trên ghế và trên kệ bàn Nguyễn Hải A ngồi.

Ngoài ra còn thu giữ: 01 ô tô màu đen Toyota Camry, BKS: 29A-057.94; 01 điện thoại nhãn hiệu IPhone màu tím của Nguyễn Hải A; 01 điện thoại nhãn hiệu IPhone màu đen đã qua sử dụng của Nguyễn Đức L; 01 điện thoại nhãn hiệu IPhone màu trắng của Hà Ngọc Phúc Đ; 01 điện thoại nhãn hiệu IPhone màu đen của Trần Xuân T2; thu giữ của bị cáo Hoàng Mai Ngọc Á 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone.

Ngày 19/7/2024 Lê Nguyễn Trung K đến Công an thành phố M đầu thú, giao nộp 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone màu xanh.

Tại các Kết luận giám định số 774/KL-KTHS và 775/KL-KTHS ngày 02/6/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận:

  • - Mẫu vật ký hiệu M1, M2, M3 gửi giám định là ma tuý; loại: Ketamine, khối lượng: M1: 0,352 gam, M2: 0,013 gam và M3: dạng vết, không xác định được.
  • - Chất ma tuý, sản phẩm chuyển hoá của chất ma tuý tìm thấy trong nước tiểu của Nguyễn Hải A: MDMA và Dehydronoketamine; của Nguyễn Đức L và Trần Xuân T2: Dehydronoketamine; của Hà Ngọc Phúc Đ: MDMA và Dehydronoketamine; của Hoàng Mai Ngọc Á: Methamphetamine, MDMA và Dehydronoketamine.

Tại bản cáo trạng số 2029/CT-VKSMC ngày 16 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo Nguyễn Hải A, Hoàng Mai Ngọc Á và Nguyễn Đức L về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; bị cáo Lê Nguyễn Trung K về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự

Tại phiên tòa các bị cáo có lời khai phù hợp với nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát.

Người làm chứng anh Hà Ngọc P Đ và anh Trần Xuân T2 vắng mặt tại phiên tòa đều có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: Đ, Hải A và L là anh em họ, T2 là bạn bè xã hội quen Đ và Hải A từ lâu. Ngày 24/5/2024 Hải A và L đi xe ô tô biển số 29A-057.94 đón Đ ở thành phố Hải Phòng sau đó đón T2 ở thành phố Đ để ra thành phố M du lịch. Khoảng 05 giờ ngày 24/5/2024 Đ, T2, Hải A và L đến M, thuê phòng tại nhà nghỉ H2 thuộc phường K, thành phố M để nghỉ ngơi. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, cả bốn người cùng đến quán L thuộc xã H, thành phố M để uống bia, nghe nhạc, tại đây có bạn của Hải A tên là Hoàng Mai Ngọc Á đến uống bia cùng. Đến khoảng 02 giờ ngày 25/5/2024 Hải A hỏi L, Đ và T2 có sử dụng ma túy “nước vui” không thì cả ba người đều đồng ý. Sau đó L chuyển tiền cho Hải A để mua ma túy “nước vui”, một lúc sau thấy Á đưa cho Hải A 01 túi ma túy “nước vui” bên ngoài túi có hình con ngựa và chữ “Ferrari”. Sau khi nhận ma túy, Hải A pha ma túi với nước cô ca và rót ra cốc để mọi người cùng sử dụng hết.

Đến khoảng 03 giờ cùng ngày quán L đóng cửa thì Á rủ mọi người đến quán O1 tại phường T, thành phố M để tiếp tục nghe nhạc. Đến khoảng 03 giờ 30 phút cùng ngày anh T2 thấy Hải A và Á đổ ma túy “ke” ra tờ tiền rồi dùng bật lửa nghiền nhỏ, xong thì Hải A và Á sử dụng trước, sau đó Á mang ma túy mời ba người còn lại lần lượt sử dụng. Đến khoảng 08 giờ cùng ngày Hải A, L, T2 và Đ về phòng nghỉ tại nhà nghỉ H2, tại đây do còn thừa ma túy chưa sử dụng hết nên Hải A đã mang ra tự sử dụng cùng với L, Đ và T2 không sử dụng. Đến 08 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an kểm tra phát hiện bắt giữ

Người chứng kiến chị Phạm Thị D1 và ông Nguyễn Thanh X vắng mặt tại phiên tòa đều có lời khai tại cơ quan điều tra thể hiện: khoảng 08 giờ 30 phút ngày 25/5/2024 tại phòng 302, khách sạn H1, tại khu D, phường K, thành phố M tổ công tác Công an kiểm tra hành chính với các đối tượng Nguyễn Hải A, Hoàng Mai Ngọc Á, Nguyễn Đức L, đã phát hiện, thu giữ 01 (một) túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng, 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, bên trong chứa chất bột màu trắng và 01 (một) tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng được cuộn tròn, bên trong bám dính chất bột màu trắng. Ngoài ra, còn tạm giữ xe ô tô màu đen, BKS: 29A-057.94 đỗ tại vỉa hè đối diện khách sạn, kiểm tra trong xe không phát hiện, thu giữ đồ vật gì.

Đại diện hợp pháp của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Đức H vắng mặt có lời khai tại cơ quan Điều tra thể hiện: chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA Camry BKS 29A-057.94là xe của Công ty do ông là người đại diện theo pháp luật, ngày 24/5/2024 ông có cho Hải A mượn xe để làm phương tiện đi lại, ông cũng không biết Hải A đi xe đi đâu, làm gì, ông đề nghị trả lại chiếc xe trên cho Công ty.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố tại bản cáo trạng về tội danh và khung hình phạt đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Hải A và Hoàng Mai Ngọc Á, mỗi bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/5/2024.
  • - Áp dụng điểm a, b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, khoản 2 Điều 54 BLHS, xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 26/5/2024.
  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Trung K từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/7/2024.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về vật chứng thu giữ:

  • Áp dụng điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a,b,c khoản 2 Điều 106 BLTTHS:
    • + Tịch thu, tiêu huỷ đối với số mẫu vật, vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; các thẻ sim liên lạc số 0928.319.xxx; 0356.691.181; 0358.927.077 và 0326.632.668;
    • + Tịch thu, sung Ngân sách Nhà nước đối 02 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 20.000 đồng và 04 chiếc điện thoại (gồm 01 điện thoại di động iPhone của Nguyễn Hải A; 01 điện thoại di động iPhone của Nguyễn Đức L; 01 điện thoại Iphone của Hoàng Mai Ngọc Á và 01 điện thoại Iphone của Lê Nguyễn Trung K).
    • + Buộc bị cáo Lê Nguyễn Trung K nộp 10.000.000 đồng sung Ngân sách Nhà nước.

Các bị cáo không tranh luận gì với nội dung bản luận tội và thừa nhận việc truy tố đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội và trình bày lời nói sau cùng: xin giảm nhẹ mức hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố M, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Xét lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản kiểm tra hành chính, vật chứng thu giữ, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử kết luận: rạng sáng ngày 25/5/2024, tại bar “Lin Lounge 79” thuộc xã H và quán karaoke "Olala" thuộc phường T, thuộc thành phố M, tỉnh Quảng Ninh, các bị cáo Nguyễn Hải A, Hoàng Mai Ngọc Á, Nguyễn Đức L có hành vi nhiều lần tổ chức cho nhau và cho Trần Xuân T2, Hà Ngọc P Đ sử dụng trái phép chất ma tuý loại Ketamine, MDMA và Methamphetamine.

Bị cáo Lê Nguyễn Trung K 03 lần bán ma tuý cho bị cáo Á gồm 01 lần bán 01 túi ma tuý “nước vui” với giá 4.000.000 đồng, 01 lần bán 01 túi ma tuý Ketamine với giá 2.000.000 đồng và 01 lần bán 02 túi ma tuý Ketamine với giá 4.000.000 đồng trong ngày 25/5/2024, tại khu H, phường N, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh .

[3] Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo Nguyễn Hải A, Hoàng Mai Ngọc Á, Nguyễn Đức L và hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo K là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý. Các bị cáo là người trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Nguyễn Hải A, Hoàng Mai Ngọc Á, Nguyễn Đức L đã phạm tội: "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên và phạm tội đối với 02 người trở lên theo quy định tại điểm a, b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo Lê Nguyễn Trung K đã phạm tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" với 03 lần bán ma túy thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái truy tố các bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất mức độ phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội nên cần thiết xử lý nghiêm, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời để răn đe, giáo dục phòng ngừa chung

[5] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy các bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo Hải A và Đức L có gia đình có hoàn cảnh khó khăn (có xác nhận của chính quyền địa phương), vợ chồng bị cáo Hải A không có việc làm, hiện đang nuôi con nhỏ nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho 02 bị cáo. Bị cáo K sau khi phạm tội đã đầu thú nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Á hiện đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, gia đình có hoàn cảnh khó khăn nên xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo L thuộc trường hợp phạm tội lần đầu và có vai trò giúp sức không đáng kể trong vụ án nên Hội đồng xét xử xem xét áp mức hình phạt dưới khung cho bị cáo quy định tại khoản 2 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[6] Xét vai trò đồng phạm của các bị cáo thấy: đây là vụ án với tính chất đồng phạm giản đơn, Bị cáo Hải A là người khởi xướng đồng thời là người bỏ tiền mua ma tuý, cung cấp ma túy để cho những người khác sử dụng, bị cáo Á tích cực giúp bị cáo Hải A đi mua ma túy, chuẩn bị dụng cụ để cho mọi người sử dụng, do vậy vai trò của bị cáo Hải A và Á chịu trách nhiệm chính ngang nhau. Đối với bị cáo Nguyễn Đức L, chỉ có hành vi giúp sức trong việc chuyển tiền (số tiền mua ma tuý là của Hải A để trong tài khoản của L) để mua ma tuý theo yêu cầu của Hải A nên có vai trò thứ yếu sau bị cáo Hải A và bị cáo Á. Bị cáo K thực hiện hành vi bán ma túy độc lập nên chịu trách nhiệm về hành vi của mình độc lập.

[7] Về hình phạt bổ sung là hình phạt tiền: xét các bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Về vật chứng thu giữ: số ma túy hoàn lại sau giám định là vật nhà nước cấm nên tịch thu tiêu hủy; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 2.000 đồng, 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 20.000 đồng các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; 04 chiếc điện thoại di động thu giữ của các bị cáo do các bị cáo sử dụng vào việc liên lạc phạm tội nên tịch thu sung ngân sách nhà nước; 04 thẻ sim gắn trong các điện thoại tịch thu của các bị cáo không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy. Buộc bị cáo K phải nộp lại số tiền 10.000.000 đồng do bán ma túy mà có để sung ngân sách Nhà nước.

Đối với 01 chiếc ô tô nhãn hiệu Toyota Camry, BKS: 29A-057.94, quá trình điều tra xác định chủ sở hữu Công ty Cổ phần S1, do ông Nguyễn Đức H, bố đẻ của Nguyễn Hải A, Nguyễn Đức L. Ông H cho Hải A mượn xe để đi lại, không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe cho chủ sở hữu nên không xét

Đối với 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone thu giữ của Trần Xuân T2, Hà Ngọc Phúc Đ, không liên quan hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho T2 và Đ nên không xét

[9] Đối với chủ sở hữu, nhân viên quản lý quán bar L và quán karaoke O không biết các bị cáo tổ chức sử dụng ma túy nên không xét

[10] Đối với Trần Xuân T2, Hà Ngọc Phúc Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, cơ quan điều tra hoàn thiện hồ sơ xử phạt hành chính theo quy định nên không xét

[11] Đối với khách sạn “Hùng Dũng” nhân viên của khách sạn đã tích cực phối hợp với cơ quan điều tra trong việc phát hiện tội phạm nên không đề cập xử lý.

[12] Đối với lời khai của bị cáo K về việc bán hộ ma túy cho đối tượng tên D và đã chuyển tiền bán ma túy cho D, tuy nhiên quá trình điều tra D không có mặt tại địa phương nên Cơ quan Điều tra tiếp tục làm rõ xử lý sau nên không xét.

[13] Về án phí: các bị cáo phải nộp án phí theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[14] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải A: 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2024.
  • Xử phạt bị cáo Hoàng Mai Ngọc Á: 07 (Bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2024.
  • - Căn cứ các điểm a, b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 2 Điều 54; Điều 17; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức L: 05 (Năm) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 26 tháng 5 năm 2024.
  • - Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Trung K: 07 (Bảy) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày 19 tháng 7 năm 2024.
  • - Về xử lý vật chứng: áp dụng: điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
    • + Tịch thu tiêu hủy: số ma túy có trong 02 phong bì được niêm phong và 04 thẻ sim lắp trong chiếc điện thoại tịch thu của các bị cáo.
    • + Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 04 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 2.000 đồng; 01 tờ tiền VNĐ mệnh giá 20.000 đồng (02 tờ tiền được niêm phong trong phong bì hoàn lại sau giám định)
    • (Tình trạng các vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng số 07/2025/THA ngày 18/10/2024 giữa Công an thành phố M với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Móng Cái).
    • + Buộc bị cáo Lê Nguyễn Trung K phải nộp lại số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) sung ngân sách nhà nước.
  • - Về án phí: áp dụng: khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
  • Buộc các bị cáo, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  • Áp dụng: khoản 1, 4 Điều 331, khoản 1, 3 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh;
  • - VKSND thành phố Móng Cái;
  • - nhà tạm giữ nơi các bị cáo đang giam giữ
  • - Phòng nghiệp vụ CATPMC;
  • - CQTHAHS và hỗ trợ tư pháp Công an thành phố Móng Cái;
  • - Các Bị cáo;
  • - Chi cục THADS thành phố Móng Cái;
  • - Lưu án văn + Hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Thu Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 22/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hải Anh, Hoàng Mai Ngọc Ánh, Nguyễn Đức Linh tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" - Xử phạt bị cáo Lê Nguyễn Trung Kiên tội "Mua bán trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger