Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGŨ HÀNH SƠN

TP. ĐÀ NẴNG

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 26 - 11 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Sơn

Ông Nguyễn Tuấn Ngọc

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Bích Hậu – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2024/HSST ngày 06 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Lê Huy N, sinh ngày 02/6/1985 tại Thanh Hóa; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: C N, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở: A P, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động phổ thông; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Huy T (chết) và bà Lê Thị T1 (chết), có vợ là Lê Thị Bích H và 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân:

  • - Ngày 04/3/2005, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999.
  • - Ngày 22/11/2007, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999;.
  • - Ngày 17/9/2009, bị Tòa án nhân dân huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 30 tháng tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999.
  • - Ngày 13/01/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 18 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự 1999.
  • - Ngày 11/7/2014, bị Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự 1999.
  • - Ngày 01/02/2024, bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cở sở cai nghiện bắt buộc tại cơ sở xã hội B, thành phố Đà Nẵng thời hạn 12 tháng (Bị cáo đang chấp hành thì bị bắt giam trong vụ án này).

Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 16/9/2024. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

1/ Anh Nguyễn Đình H1, sinh năm 1993; Trú tại: A L, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.

2/ Ông Lê Huy T2, sinh năm 1971; Trú tại: C T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. Vắng mặt.

3/ Anh Lê Huy Đ, sinh năm 1999; Trú tại: C T, phường A, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ 00 phút ngày 17/12/2023, anh Nguyễn Đình H1 sau khi ngủ ngoài hành lang tầng 11 của Bệnh viện P, thức dậy thì phát hiện bị mất 01 ĐTDĐ nhãn hiệu Iphone 11 Promax, màu xám; 01 ví bên trong có giấy tờ cá nhân nên trình báo bảo vệ bệnh viện.

Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Huy N đang ngồi ở ghế đá tại Bệnh viện thì có 02 thanh niên (không rõ lai lịch) rao bán 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax với giá 5.000.000đ kèm theo một số giấy tờ có thông tin cá nhân mang tên Nguyễn Đình H1. Biết chiếc điện thoại là tài sản trộm cắp nhưng N vẫn đồng ý mua với giá 4.500.000đ. Khi về nhà, N dùng điện thoại nhãn hiệu Iphone 6 plus, màu gold nhắn tin cho cháu ruột là Lê Huy Đ tìm cách mở khóa chiếc điện thoại nhưng không được.

Khoảng 13 giờ 28 phút ngày 23/12/2023, Lê Huy N dùng điện thoại di động hiệu Nokia 105 màu đen sim số 0784.240.470 nhắn tin đến số điện thoại 0772.140.xxx (có sẵn trong giấy tờ tùy thân của anh H1) yêu cầu anh Hoàng cung C mật khẩu máy, mật khẩu I; chuộc lại điện thoại di động cùng giấy tờ tùy thân với số tiền 6.000.000đ nhưng anh H1 không đồng ý, cuối cùng cả hai thương lượng số tiền chuộc là 5.000.000đ và hẹn địa điểm giao dịch tại số C đường N, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng. Đến khoảng 16 giờ 40 phút ngày 25/12/2023, anh H1 đến điểm hẹn để giao tiền và chuộc lại tài sản từ N thì bị Cơ quan Công an phường K phát hiện, lập biên bản sự việc, tạm giữ đồ vật, tài sản liên quan.

Tang vật tạm giữ Lê Huy N:

  • - Số tiền mặt 4.900.000đ;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu gold;
  • - 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen;
  • - 01 xe máy BKS 36B6-681.72;
  • - Giấy tờ cá nhân mang tên Nguyễn Đình H1 gồm: 01 cavet xe mô tô BKS 43D1-614.20, giấy phép lái xe, bảo hiểm xe, căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, thẻ ATM, thẻ Vingroup, thẻ PVIcare.

Tang vật tạm giữ Lê Huy T2:

  • - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe máy BKS 36B6-681.72.

Tại Kết luận định giá tài sản số 09/KL-HĐĐGTS ngày 26/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận N kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, số seri: F2LZLBZFN70G, dung lượng 64GB có giá 6.872.000đ.

Tại bản Cáo trạng số 83/CT - VKS - NHS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố Lê Huy N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự;

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt Lê Huy N từ 15 đến 21 tháng tù.

Về vật chứng: Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu gold; 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen thu giữ của Lê Huy N.

Bị cáo Lê Huy N khai vào khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/12/2023, bị cáo đang ở Bệnh viện P thì có hai thanh niên không rõ lai lịch đến hỏi và bán cho bị cáo một điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám và giao cả ví, giấy tờ tùy thân cho bị cáo. Lúc này mặc dù biết rõ tài sản là do trộm cắp mà có nhưng bị cáo vẫn nhận mua. Sau đó bị cáo có dùng điện thoại của mình nhắn tin vào số điện thoại ghi trên giấy tờ tùy thân để đề nghị chủ sở hữu điện thoại chuộc lại tài sản. Khi bị cáo đang chuẩn bị nhận tiền chuộc từ chủ sở hữu chiếc điện thoại thì bị bắt đúng như cáo trạng đề cập. Bị cáo khẳng định bị cáo không trực tiếp trộm cắp điện thoại cũng không quen biết hay hứa hẹn gì với hai đối tượng đã bán điện thoại cho bị cáo về việc tiêu thụ tài sản. Do đó về trình tự thủ tục điều tra, truy tố, xét xử cũng như tội danh, điều luật Viện kiểm sát đã truy tố và đề nghị áp dụng tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án phù hợp với các tài liệu, chứng cứ, lời khai cũng như diễn biến tại phiên tòa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm vấn công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, điều tra bổ sung, truy tố và tại phiên tòa bị cáo cũng như những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Qua xem xét các chứng cứ, tài liệu, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, chứng minh tội phạm và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa thể hiện: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 17/12/2023 tại Bệnh viện P, Lê Huy N được hai đối tượng không xác định lai lịch rao bán 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu xám trị giá 13.500.000đ cùng các giấy tờ tùy thân gồm 01 cavet xe mô tô BKS 43D1-614.20, giấy phép lái xe, bảo hiểm xe, căn cước công dân, thẻ bảo hiểm y tế, thẻ ATM, thẻ Vingroup, thẻ PVIcare mang tên Nguyễn Đình H1. Mặc dù biết rõ tài sản này là do phạm tội mà có nhưng N vẫn đồng ý mua với giá 4.500.000đ. Ngoài tang vật, lời khai của bị cáo và anh Nguyễn Đình H1 không còn chứng cứ nào khác chứng minh việc bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp hay hay hứa hẹn việc tiêu thụ tài sản nói trên. Do đó căn cứ Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự, Cáo trạng số 83/CT - VKS - NHS ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Lê Huy N về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng tội, phù hợp với hướng dẫn tại Công văn số 100/TANDTC-PC ngày 12/4/2016 của Tòa án nhân dân Tối cao.

[3] Xét hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội đồng thời đã gián tiếp tiếp tay cho hành vi xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác. Sau khi nhận mua tài sản do phạm tội mà có, bị cáo còn chủ động nhắn tin cho anh Nguyễn Đình H1 là chủ sở hữu tài sản để đòi tiền chuộc, hành vi của bị cáo thể hiện sự liều lĩnh, coi thường pháp luật. Mặt khác bản thân bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”, “Mua bán trái phép chất ma túy” và bị xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Do đó đối với bị cáo cần phải bị xử lý nghiêm, cách ly ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục. Mức án mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là chưa tương xứng với tính chất hành vi cũng như nhân thân của bị cáo, do đó Hội động xét xử cần xử phạt bị cáo mức án cao hơn mới đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa chung.

[4] Về áp dụng tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, do đó cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm cho bị cáo một phần hình phạt.

[5] Đối với người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và vấn đề liên quan trong vụ án:

[5.1] Đối với Lê Huy T2 là anh trai của Lê Huy N có cho N mượn xe mô tô BKS 36B6-681.72 để phục vụ đi lại, T2 không biết N sử dụng xe vào mục đích phạm tội, do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.2] Đối với Lê Huy Đ là cháu Lê Huy N, sau khi mua điện thoại N có nhắn tin hỏi Đ cách mở khóa nhưng Đ không giúp được và cũng không biết về hành vi phạm tội của N, do đó Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không đề cập trách nhiệm hình sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[5.3] Đối với anh Nguyễn Đình H1 là người bị mất trộm, sau đó có nhận được tin nhắn của N đề nghị chuộc lại điện thoại, khi H1 giao tiền cho bị cáo tại C đường N, phường A, quận S thì bị Công an phường K bắt giữ. Tài sản và tiền đều đã được trả lại cho anh H1, anh H1 không có ý kiến hay yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không đề cập.

[5.4] Đối với việc Lê Huy N nhắn tin đề nghị anh Nguyễn Đình H1 đưa tiền chuộc, sau đó anh H1 đồng ý và hẹn giao cho N số tiền 4.900.000đ. Nội dung này Tòa án cũng đã đề cập tại Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 04/2024/HSST-QĐ ngày 27/9/2024. Quá trình Điều tra bổ sung, xác định vụ việc giao nhận tiền xảy ra tại C đường N, phường A, quận S nên Cơ quan Điều tra đã có Quyết định tách hành vi của Lê Huy N có dấu hiệu “Cưỡng đoạt tài sản” và chuyển thông tin cho Công an quận S để giải quyết theo thẩm quyền, phạm vi vụ án này Cơ quan Điều tra, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng:

[6.1] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 11 Promax, màu xám, các giấy tờ tùy thân mang tên Nguyễn Đình H1 và số tiền 4.900.000đ, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận N, thành phố Đà Nẵng đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Nguyễn Đình H1, anh H1 đã nhận lại tài sản và không có ý kiến, yêu cầu gì, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.2] Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đen trắng BKS 36B6-681.72 là tài sản của ông Lê Huy T2 cho Lê Huy N mượn, ông T2 không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội của N nên Cơ quan Điều trả đã xử lý vật chứng trả lại xe cho ông T2, ông T2 đã nhận tài sản và không có ý kiến gì, Viện kiểm sát không tiếp tục đề cập nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6.3] Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu gold và 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen là tài sản của Lê Huy N đã sử dụng liên lạc với Lê Huy Đ hỏi cách mở khóa điện thoại và nhắn tin với anh Nguyễn Đình H1 để đòi tiền chuộc. Xét đây là phương tiện bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Lê Huy N phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”;

1/ Căn cứ vào: khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Huy N 02 (Hai) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam – 16/9/2024

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên:

* Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với các vật chứng gồm:

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Iphone 6 plus, màu gold;

- 01 (Một) điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen.

(Vật chứng trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/11/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận N và Chi cục thi hành án dân sự quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng).

3/ Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Buộc bị cáo Lê Huy N phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Về quyền kháng cáo: Án xử sơ thẩm, báo cho các bị cáo có mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Ngũ Hành Sơn;
  • - VKSND TP Đà Nẵng;
  • - TAND TP Đà Nẵng;
  • - CQCSĐT CA quận Ngũ Hành Sơn;
  • - THA dân sự quận Ngũ Hành Sơn;
  • - Cơ sở tạm giam/tạm giữ;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

(Đã ký)

Đoàn Công Quốc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGŨ HÀNH SƠN, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Huy Nghĩa bị xét xử về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger