Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 23-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Hồng Nguyên.
  2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoàng Tuấn – Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Mè Văn B - sinh năm 1983, tại Lạng Sơn; họ khẩu thường trú: thôn C, xã Y, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; chỗ ở: ấp A, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mè Thanh B1 (đã chết) và bà Hoàng Thị H - sinh năm 1949ồngH; vợ: Hà Thị L – sinh năm 1982; con: có 02 con, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: không; bị cáo tạm giữ từ ngày 15/5/2024 đến ngày 21/5/2024, sau đó được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay (có mặt).

- Bị hại: Ông Lâm Thanh T – sinh năm 1971; cư trú: khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Kim C – 1973; cư trú: ấp H, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ ngày 14/5/2024, Mè Văn B điều khiển xe ô tô biển số 60K-213.69 đến trụ ATM của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện T (gọi tắt là Agibank huyện T) ngụ tại khu I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai để rút tiền về sử dụng. Khi đến nơi, Mè Văn B đang rút tiền nhìn thấy ông Lâm Thanh T đang rút tiền tại máy ATM ngay bên cạnh 1 bên máy ATM. Khi ông T thực hiện thao tác rút số tiền 3.000.000 đồng xong thì máy ATM bị kẹt chậm nhả tiền. Do cho rằng máy ATM gặp vấn đề nên ông T chuyển sang máy ATM bên cạnh để tiếp tục rút tiền. Liền đó, máy ATM ông T thực hiện lệnh rút tiền trước đó mới nhả tiền ra. Nên Mè Văn B nhìn thấy đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Thực hiện ý định, Mè Văn B đã chủ động bắt chuyện, dùng cơ thể để che chắn máy ATM rồi lén lút dùng tay lấy số tiền 3.000.000 đồng cho vào túi quần đi ra xe về nhà.

Sau khi vụ án bị phát hiện, ngày 15/5/2024, Mè Văn B đến cơ quan Công an đầu thú, giao nộp toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt của ông T và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Vật chứng thu giữ: Số tiền 3.000.000 đồng; 01 xe ô tô biển số 60K-213.69.

Tại Cáo trạng số 105/QĐ-VKSTP-ĐN ngày 23 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Mè Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú tham gia phiên tòa trình bày luận tội và giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo, cụ thể như sau:

Áp khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; đề nghị Hội đồng xét xử: xử phạt bị cáo Mè Văn B từ 06 tháng tù đến 08 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 16 tháng.

Về vật chứng vụ án:

  • - Đối với số tiền 3.000.000 đồng là tài sản Mè Văn B chiếm đoạt, Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là có căn cứ.
  • - Đối với 01 xe ô tô biển số 60K-213.69 là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị Kim C, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà C là có căn cứ.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị cáo đã khắc phục xong và bị hại không có yêu cầu gì khác, nên không xem xét.

Tại phiên tòa: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, bị cáo thống nhất về tội danh, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát vừa đề nghị áp dụng đối với bị cáo, thống nhất về xử lý vật chứng và không có ý kiến hay tranh luận gì khác.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét thấy lời khai nhận tội tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với vật chứng của vụ án, các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và đã được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện bị cáo Mè Văn B đã có hành vi lén lút trộm cắp 3.000.000 đồng của ông Lâm Thanh T, đây là tài sản hợp pháp của ông T. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” và có đủ cơ sở kết luận Cáo trạng số 105/QĐ-VKSTP-ĐN ngày 23 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú đã truy tố bị cáo Mè Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[2] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Trong vụ án này bị cáo là công dân có đủ nhận thức để hiểu được hậu quả của hành vi sai trái và những quy định cấm đoán của pháp luật đối với hành vi phạm tội, nhưng vì tham lam, vụ lợi mà bị cáo cố ý thực hiện hành vi phạm tội nên cần thiết đưa ra xét xử nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung trong xã hội.

[3] Về tình tiết tăng nặng: không có.

[4] Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; đã khắc phục toàn bộ hậu quả, được quy định tại điểm b, i, s, khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự. Ngoài ra bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 2, Điều 51 như: có hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, các con còn nhỏ, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, bị cáo ra đầu thú.

[5] Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy tính chất mức độ hành vi của bị cáo nằm trong khung hình phạt không quá 03 năm, bên cạnh đó bị cáo có nhiều tính tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng để cơ quan có thẩm quyền giám sát, giáo dục. Vì vậy, bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015 và theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018, Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

[6] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với số tiền 3.000.000 đồng là tài sản Mè Văn B chiếm đoạt đã giao nộp và Cơ quan điều tra đã trả cho chủ sở hữu hợp pháp là có cơ sở nên không xét.
  • - Đối với 01 xe ô tô biển số 60K-213.69 là tài sản của bà Nguyễn Thị Kim C cho Mè Văn B mượn làm phương tiện đi lại, bà C không biết bị cáo B sử dụng xe đi trộm cắp tài sản, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho bà C là có căn cứ nên không xét.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không có yêu cầu gì khác, tại phiên tòa vắng mặt, nên không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh đối với bị cáo, hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các vấn đề khác trong vụ án.

[10] Về các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Mè Văn B phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Căn cứ vào khoản 1, Điều 173; điểm b, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự; Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018; Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;

- Xử phạt: Mè Văn B 08 (tám) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Mè Văn B về cho Ủy ban nhân dân xã P, huyện Đ giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

- Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Công an huyện Tân phú;
  • - Chi cục THA dân sự Tân Phú;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 23 tháng 8 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 98/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 119/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 8 năm 2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger