Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Bản án số: 110/2024/HS-ST

Ngày: 10/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Lài

Ông Trần Văn Việt

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thanh Trúc – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thành – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 89/2024/HSST ngày 14/6/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 118/2024/HSST-QĐ ngày 01/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/2024/HPT-QĐ ngày 14/8/2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Văn S, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1984 tại tỉnh Nghệ An; Nơi đăng ký thường trú: Xóm E, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; Chỗ ở: G B, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Nhân viên quản lý kho; Con ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1944; Là con út trong gia đình có 6 anh chị em; có vợ Trần Thị D, sinh năm 1992, có 01 con sinh năm 2016.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/3/2023 (có mặt).

  2. Nguyễn Văn T, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1972 tại tỉnh Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: 945/79/2 Đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Nghề nghiệp: Công nhân; Con ông Nguyễn Văn Q (đã chết) và bà Phạm Thị L (đã chết); Là con thứ ba trong gia đình có 5 anh chị em; Có vợ Đoàn Thị Thu H, sinh năm 1970; có 02 con lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2009.

    Tiền án, tiền sự: không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 06/3/2023 (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo S, T: Ông Nguyễn Văn C1 - Luật sư Công ty L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).

* Người bào chữa cho bị cáo S: Ông Phạm Đức H1 – Luật sư Công ty L3 thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

* Bị hại: Công ty TNHH H4 thuộc Dự án Hóa dầu L, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Kwon Do R – Giám đốc; Nơi cư trú: A V, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Đăng P, sinh năm 1983; Nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã H, thành phố B, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Trần Thị D, sinh năm 1992; Nơi cư trú: G B, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  2. Bà Đoàn Thị Thu H, sinh năm 1970; Nơi cư trú: 945/79/2 Đường C, phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
  3. Ông Lê Văn H2, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn P, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (có mặt).
  4. Ông Hồ Sỹ T1, sinh năm 1976; Nơi cư trú: 117/10/10 H, phường H, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Ông Nguyễn Văn T2, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ G, khu phố H, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  2. Ông Trần Nhật N1, sinh năm 1997; Nơi cư trú: Khu phố P, phường P, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  3. Ông Sơn Hoàng L1, sinh năm 1987; Nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  4. Ông Danh Tuấn T3, sinh năm 1991; Nơi cư trú: Tổ I, thôn C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  5. Ông Nguyễn Quốc M, sinh năm 1976; Nơi cư trú: Thôn C, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  6. Ông Nguyễn Văn C2, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Tổ H, thôn B, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  7. Ông Nguyễn Quốc H3, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Thôn B, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  8. Ông Nguyễn Văn C3, sinh năm 1954; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  9. Ông Lê Việt C4, sinh năm 1978; Nơi cư trú: 53/201 C3 L, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).
  10. Ông Dương Chí T4, sinh năm 1988; Nơi cư trú: Thôn A, xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn S là nhân viên quản lý Kho vật tư của Công ty TNHH H5 (gọi tắt là Công ty H6) thuộc Dự án Hóa dầu L tại xã L, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu và có mối quan hệ quen biết với Hồ Sỹ T1. Qua các lần giao tiếp, T1 biết trong kho vật tư của Công ty H6 có nhiều gỗ pallet phế liệu, không còn sử dụng nên nhờ S xin giúp để tái sử dụng. Sinh đồng ý.

Ngày 16/12/2022, S báo cho T1 biết đã có gỗ pallet phế liệu và yêu cầu T1 chuẩn bị xe tải để vào kho chở. T1 đã thuê Nguyễn Văn T2; Trần Nhật N1; Sơn Hoàng L1 và D1 Tuấn T3 điều khiển xe ô tô tải biển số 81C-043.10 vào kho để chở gỗ pallet phế liệu.

Là quản lý kho vật tư của Công ty H6, biết trong kho có một cuộn dây cáp điện chưa qua sử dụng nên S nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng cách lợi dụng xe của T1 vào chở gỗ pallet phế liệu thì S sẽ cho cuộn cáp điện lên xe chở ra khỏi kho. Để thực hiện ý đồ, S bàn bạc với Nguyễn Văn T là tài xế lái xe nâng trong kho vật tư giúp sức cẩu cuộn dây cáp điện lên xe thì T đồng ý.

Khi xe tải của T1 vào, S yêu cầu anh Nguyễn Quốc M là nhân viên bảo vệ mở cửa kho để xe vào chở hàng. Anh M tin tưởng xe vào ra nhận hàng như quy trình bình thường nên mở cửa kho cho xe vào mà không biết ý đồ chiếm đoạt tài sản của S, T. Theo chỉ dẫn, T2 điều khiển xe tải biển số 81C-043.10 vào trong kho của Công ty H6 để nhận hàng thì được T dùng xe nâng một cuộn dây cáp điện lõi đồng (loại 0.6/1KV FR1-CEWWAV4X120SQ+1X70SQ, vỏ bọc bằng nhựa màu đỏ dài 460m, bên ngoài bọc gỗ) chưa qua sử dụng để lên thùng xe. Sau đó, T2 điều khiển xe ra khỏi kho và liên lạc với T1 để hỏi giấy tờ ra cổng; T1 liên lạc với S đề nghị cấp giấy tờ hợp lệ để xe ra khỏi cổng Dự án Hóa dầu L.

Đợi đến khoảng 17 giờ cùng ngày, do vẫn chưa có giấy tờ ra cổng nên T2, L1, T3, N1 để xe ô tô tải tại bãi đất trống gần Công ty M1 (thuộc gói thầu A2, Dự án Tổ hợp hóa dầu) và đi về. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày (16/12/2022) thùng xe tải 81C-043.10 bị cháy, lực lượng bảo vệ đã tiến hành chữa cháy và phát hiện cuộn dây cáp điện trên xe nên đã trình báo Công an.

Tại Kết luận số 22/KL-HĐĐG-TTHS ngày 20/02/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố V xác định giá trị 01 (một) cuộn dây cáp điện lõi đồng chưa qua sử dụng loại 0.6/1KV FR1-CEWWAV4X120SQ+1X70SQ, vỏ bọc bằng nhựa màu đỏ dài 460 mét là 544.000.094 đồng.

Tại Kết luận số 2141/KL ngày 25/4/2023 của Phân Viện khoa học hình sự tại TP H xác định điểm xuất phát cháy đầu tiên là vị trí giữa cuộn dây cáp điện đặt phía trước trong thùng xe ô tô tải biển số 81C-043.10. Nguyên nhân cháy là do tác động của con người (đốt).

Tại Kết luận số 98/KL ngày 18/72023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố V xác định cuộn dây cáp điện lõi đồng sau khi bị cháy, có giá trị 248.114.800 đồng.

Ban đầu, Cơ quan CSĐT (PC02) Công an tỉnh B đã khởi tố, bắt tạm giam đối với Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo Điều 173 Bộ luật Hình sự để điều tra. Ngày 24/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã có Cáo trạng số 130/CT-VKSBRVT-P2 truy tố Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Quá trình xét xử, ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã ra Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung 08/2024/HSST-QĐ yêu cầu chuyển tội danh các bị can Sinh, T sang tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Qua đánh giá kết quả điều tra và điều tra bổ sung, xét thấy:

- Đối với Nguyễn Văn S: Kết quả điều tra xác định S là người có chức trách, nhiệm vụ quản lý kho vật tư của Công ty H6 thuộc Dự án Hóa dầu L tại xã L, thành phố V. Ngày 16/12/2022, khi xe ô tô tải biển số 81C-043.10 vào kho công ty H6 để chở pallet phế liệu, S đã lợi dụng chức vụ quyền hạn, thông đồng với Nguyễn Văn T là lái xe nâng chiếm đoạt cuộn dây cáp điện chưa sử dụng trị giá 544.000.094 đồng là tài sản của Công ty H6 giao cho S quản lý. Do đó, hành vi của S đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, giữ vai trò chính trong vụ án.

- Đối với Nguyễn Văn T: Kết quả điều tra xác định T là nhân viên của Công ty H6 có nhiệm vụ lái xe nâng. Mặc dù T không được giao nhiệm vụ quản lý kho vật tư của Công ty H6 nhưng T đã tiếp nhận ý chí, thông đồng với Nguyễn Văn S chiếm đoạt cuộn dây cáp điện chưa sử dụng trị giá 544.000.094 đồng là tài sản của Công ty H6. Hành vi của T đủ yếu tố cấu thành tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự ở giai đoạn phạm tội chưa đạt, giữ vai trò giúp sức trong vụ án.

* Vật chứng:

  • Đối với cuộn dây cáp điện các bị cáo chiếm đoạt như đã nêu trên. Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Công ty TNHH H5 theo quy định.
  • Đối với xe tải biển số 81C-043.10, hiệu Hyundai MIGHTY II thu giữ tại hiện trường. Xe có giấy tờ hợp pháp nên Cơ quan điều tra đã xử lý trả lại cho chủ sở hữu là anh Lê Văn H2 theo quy định.
  • Đối với 01 thẻ nhớ (USB) vỏ bằng kim loại màu trắng, phía trên có chữ “HYUNDAI ENGINEERING CO.,LTD”, được chuyển theo hồ sơ vụ án.

* Giải quyết dân sự:

Quá trình điều tra, ông Võ Đăng P đại diện Công ty H6 đã nhận bồi thường số tiền 200 triệu đồng từ gia đình bị can Sinh. Nay Công ty không yêu cầu gì thêm.

* Các vấn đề khác có liên quan:

  • Đối với hành vi hủy hoại tài sản là cuộn dây cáp điện lõi đồng chưa qua sử dụng loại 0.6/1KV FR1-CEWWAV4X120SQ+1X70SQ, vỏ bọc bằng nhựa màu đỏ dài 460 mét là 544.000.094 đồng; do thời hạn đều tra đã hết nhưng chưa xác định được thủ phạm gây án nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra truy xét, khi nào đủ cơ sở xử lý sau.
  • Đối với các cá nhân Hồ Sỹ T1, Nguyễn Văn T2, Trần Nhật N1, Sơn Hoàng L1, Danh Tuấn T3 có liên quan đến vụ án, quá trình điều tra xác định chỉ thỏa thuận với S lấy gỗ pallet phế liệu thải ra trong quá trình sản xuất; việc S và T lấy trộm cuộn cáp của Công ty H5 là tự ý, phát sinh ngoài sự bàn bạc, thỏa thuận nên không có căn cứ xử lý T1, T2, N1, L1, T3 về vai trò đồng phạm với S và T về tội phạm theo quy định tại Điều 353 Bộ luật Hình sự;
  • Ngoài ra, quá trình điều tra xác định sau khi vụ trộm cắp tài sản bị phát giác, S và T giao cho Hồ Sỹ T1 số tiền 295 triệu đồng (Sinh giao 200 triệu đồng, T giao 95 triệu đồng) để nhờ T1 mua lại cuộn dây cáp điện tương tự như cuộn cáp đã bị cháy để S xin Công ty H5 giải quyết nội bộ. T1 đã liên hệ Công ty H5 xin mua lại cuộn cáp giúp S nhưng Công ty không đồng ý nên sau khi S và T bị khởi tố, bắt tạm giam thì T1 đã liên hệ với vợ của S là chị Trần Thị D và vợ của T là chị Đoàn Thị Thu H để trả lại số tiền này. Do đó, không có căn cứ xác định việc T1 nhận 295 triệu đồng để xin giúp cho S và T không bị xử lý hình sự nên Cơ quan điều tra không xử lý hành vi này theo dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự.

2. Tại Cáo trạng số 83/CT-VKSBRVT-P2 ngày 20/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

3. Tại phiên tòa:

Trong bản luận tội đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo, đồng thời phân tích đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T phạm tội “Tham ô tài sản".

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Văn S từ 08 đến 09 năm tù.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 54; Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 đến 08 năm tù.

Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.

Luật sư Nguyễn Văn C1 trình bày bào chữa cho các bị cáo như sau:

Về tội danh: Thống nhất với cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội “Tham ô tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Thống nhất các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị, ngoài ra đề nghị xem xét thêm các tình tiết giảm nhẹ khác cho hai bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử cho hai bị cáo mức án từ 05 đến 06 năm tù.

Luật sư Phạm Đức H1 trình bày bào chữa cho bị cáo Nguyễn Văn S như sau:

Về tội danh: Không tranh luận.

Về hình phạt: Đề nghị cho bị cáo S mức án thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị.

Các bị cáo đồng ý với nội dung bào chữa của luật sư, không bổ sung gì thêm.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo thể hiện thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức hình phạt đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;

[1] Về tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình hoàn toàn phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:

  • Nguyễn Văn S là người có chức trách, nhiệm vụ quản lý kho vật tư của Công ty H6 thuộc Dự án Hóa dầu L tại xã L, thành phố V. Ngày 16/12/2022, khi xe ô tô tải biển số 81C-043.10 vào kho công ty H6 để chở pallet phế liệu, S đã lợi dụng chức vụ quyền hạn, thông đồng với Nguyễn Văn T là lái xe nâng chiếm đoạt cuộn dây cáp điện chưa sử dụng trị giá 544.000.094 đồng là tài sản của Công ty H6.
  • Nguyễn Văn T là nhân viên lái xe nâng của Công ty H6. Mặc dù không quản lý kho vật tư của Công ty H6 nhưng T đã tiếp nhận ý chí, thông đồng với Nguyễn Văn S chiếm đoạt cuộn dây cáp điện chưa sử dụng trị giá 544.000.094 đồng là tài sản của Công ty H6.

Tuy nhiên do xe ô tô chở cuộn dây cáp điện không có giấy tờ ra khỏi cổng Dự án Hoá lộc dầu L nên để ô tô lại bãi đất trống thuộc Dự án Hoá lộc dầu L đến 20 giờ cùng ngày thì thùng xe ô tô và cuộn dây cáp điện bị cháy. Các bị cáo chưa chuyển được tài sản chiếm đoạt ra ngoài.

Từ diễn biến hành vi của các bị cáo và kết luận giám định, định giá, Hội đồng xét xử hoàn toàn có căn cứ quy kết các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T đã phạm tội “Tham ô tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 353 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản của pháp nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an nơi làm việc. Các bị cáo là nhân viên của Công ty H5, có đầy đủ nhận thức và chuyên môn được tuyển dụng để làm việc, được trả lương nhưng vì muốn có tiền tiêu xài nên đã thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chính công ty mình làm việc; trong đó bị cáo S giữ vai trò chính, còn bị cáo T giữ vai trò giúp sức trong vụ án. Vì vậy, cần có mức án phù hợp, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thời gian để răn đe giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • [4.1] Nhân thân: Các bị cáo chưa có tiền án tiền sự.
  • [4.2] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
  • [4.3] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn S đã tác động gia đình bồi thường cho Công ty H5 200.000.000 đồng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo S. Đồng thời gia đình bị cáo S có cha, mẹ và bác là người có công với cách mạng nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T không biết chữ nên nhận thức có phần hạn chế, hoàn cảnh khó khăn nên áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo T không có đủ 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự để cho bị cáo mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng; do đó việc đề nghị của Viện kiểm sát và luật sư như trên là chưa đủ căn cứ. Bị cáo S giữ vai trò chính trong vụ án nên mức hình phạt phải cao hơn bị cáo T.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Công ty H5 đã nhận 200.000.000đ và nay không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

[6] Về xử lý vật chứng: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 USB, vỏ bằng kim loại màu trăng, phía trên có chữ “HYUNDAI ENGINEERING CO.,LTD”.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự:

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Văn S, Nguyễn Văn T phạm tội “Tham ô tài sản”.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn S 11 (mười một) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 353; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 15; Điều 57; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt: Nguyễn Văn T 11 (mười một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 06/3/2023.

2. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án 01 thẻ nhớ (USB) vỏ bằng kim loại màu trắng, phía trên có chữ “HYUNDAI ENGINEERING CO.,LTD”.

3. Trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.

4. Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo Nguyễn Văn S và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

5. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Đối với những người vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân cấp cao tại TP. HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh BR-VT;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh BR-VT;
  • - Công an tỉnh BR-VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT;
  • - Cục Thi hành án dân sự tỉnh BR-VT;
  • - THAHS tỉnh BR-VT;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu (3): Văn phòng, Tòa Hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thành Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HS-ST ngày 10/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về tham ô tài sản

  • Số bản án: 110/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S và đồng phạm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger