Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NINH PHƯỚC

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 110/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 – 11 – 2024.

V/v tranh chấp: “Ly hôn, nuôi con chung"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Phạm Ngọc Minh

- Ông Lê Quang Chính

Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quen - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tham gia phiên tòa: Bà Lưu Thị Kim Thuyền - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 227/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2024, về việc tranh chấp: "Ly hôn, nuôi con chung" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 118/2024/QĐXX-ST, ngày 18/10/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 86 ngày 04/11/2024 giữa.

Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái H- sinh năm: 1991 (có mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị M - sinh năm 1998 (vắng mặt),

Cùng địa chỉ: H, Phước H1, N, Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông H trình bày:

Ông H, bà M tự tìm hiểu về sống với nhau năm 2014, hai bên gia đình đồng ý tổ chức lễ cưới, tháng 01 năm 2020 có đến UBND xã P kết hôn,

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho năm 2017 xảy ra xích mích, tháng 01 năm 2020 khi đăng ký kết hôn xong thì xảy ra mâu thuẫn.

Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông H bà M không hợp tính nhau nên thường xảy ra cãi vã và sống ly thân từ sau tháng 01 năm 2020 cho đến nay không có trách nhiệm với nhau, không quan tâm đến nhau.

Nay ông H xét thấy tình cảm giữa ông với bà M không còn ông yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn bà M.

Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 19/11/2014, hiện nay ông H đang nuôi và ông H yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu bà M cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có.

Về nguyện vọng con chung: Mong muốn được sống với ông H.

Về phía bị đơn: Tòa án phối hợp với chính quyền địa phương tống đạt các thông báo theo thủ tục tố tụng, nhưng bà M không có mặt tại Tòa án vào các lần triệu tập.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước phát biểu: Qua kiểm sát việc tuân theo pháp luật, trong quá trình giải quyết vụ án. Thẩm phán, Hội đồng xét xử phiên tòa dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Ninh Phước thực hiện đúng thủ tục tố tụng từ khi triệu tập, thụ lý, lấy lời khai, thu thập chứng cứ, hòa giải và các thủ tục khác cũng được thực hiện đầy đủ đúng quyền, nghĩa vụ của đương sự; kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án. Đối với nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Luật hôn nhân và gia đình, Bộ luật tố tụng dân sự tuyên xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, cho ông H được ly hôn bà M.

Về con chung: Đề nghị giao con chung cho ông H chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông H không yêu cầu bà M cấp dưỡng, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn khai không có, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về quan hệ tranh chấp trong vụ án này là: "Ly hôn, nuôi con chung"
  2. Nội dung pháp luật áp dụng: Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Bộ luật tố tụng dân sự 2015.
  3. Xét về hôn nhân: Ông Nguyễn Thái H, bà Nguyễn Thị M tự tìm hiểu về chung sống có đến cơ quan cấp có thẩm quyền đăng ký kết hôn năm 2020 là hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống thời gian đầu hạnh phúc cho đến sau tháng 01 năm 2020 xảy ra xích mích không giải quyết được dẫn đến mâu thuẫn trầm trọng sống ly thân không quan tâm đến nhau, không có trách nhiệm với nhau.

Nay ông H xét thấy tình cảm giữa ông với bà M không còn, ông yêu cầu được ly hôn bà M là có căn cứ.

Qua xác minh chính quyền địa phương cho biết ông H, bà M đã sống ly thân.

Điều này chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa ông H, bà M cuộc sống chung không có hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, ông H xin ly hôn bà M là có căn cứ phù hợp với Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông H.

  1. Xét về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 19/11/2014 hiện nay ông H đang nuôi và ông yêu cầu được tiếp tục nuôi là phù hợp với nguyện vọng của con chung, phù hợp pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của ông H, giao cho ông H được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
  2. Về cấp dưỡng nuôi con chung: Hội đồng xét xử không xem xét do nguyên đơn không yêu cầu.
  3. Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét, do nguyên đơn khai không có,
  4. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án và khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 ông H phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  5. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ninh Phước tại phiên tòa về quan điểm giải quyết vụ án là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ ý kiến, quan điểm về việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 38, Điều 51, Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 "hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về án phí, lệ phí";

Tuyên xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông Nguyễn Thái H, ông Nguyễn Thái H được ly hôn bà Nguyễn Thị M.

Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Thái H được tiếp tục nuôi 01 con chung tên Nguyễn Quốc H2, sinh ngày 19/11/2014 hiện con chung ông H đang nuôi.

Bà Nguyễn Thị M có quyền đi lại thăm nom chăm sóc giáo dục con chung ông Nguyễn Thái H là người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở bà M trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Nguyễn Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung, do ông H không yêu cầu.

Về tài sản chung, nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét do nguyên đơn khai không có.

Về án phí: Buộc ông Nguyễn Thái H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm; nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng chẳn) ông Nguyễn Thái H đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004464 ngày 12/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Ninh Phước, ông H đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt. Báo cho người có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (20/11/2024). Riêng bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết bản án theo thủ tục tố tụng.

- Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - VKSND huyện Ninh Phước;
  • - THADS huyện N;
  • - UBND xã P (để biết);
  • - Các đương sự

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Sửu

Các Hội thẩm nhân dân

Phạm Ngọc Minh; Lê Quang Chính

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đoàn Sửu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/HNGĐ-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 110/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NINH PHƯỚC, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger