Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 110/2024/DS-PT

Ngày: 23/9/2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất và

yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Bà Lê Thị Hiền
  • Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Tín
  • Ông Võ Đình Phương
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ánh Tuyết.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa:
  • Bà Huỳnh Thiên Hương - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 19 và 23 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 39/2024/TLPT-DS ngày 21 tháng 2 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXX-PT ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 111/2024/QĐXX-PT ngày 09 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1962
  • Địa chỉ: Thôn K (nay là thôn T), xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
  • - Bị đơn: Bà Nguyễn Thị T1, sinh năm 1970
  • Địa chỉ: Thôn K (nay là thôn T), xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa; có mặt.
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:

Năm 1991, bà Nguyễn Thị T được mẹ ruột là bà Nguyễn Thị T2 (đã mất) cho 1 lô đất để trồng lúa và trồng mì. Năm 2011, bà Nguyễn Thị T2 làm giấy tặng cho bà T. Năm 2011, bà T được Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE 584813, số vào sổ cấp GCN: CH00459 ngày 28/6/2011 đối với thửa đất số 37, tờ bản đồ số 7, diện tích 6225m², tọa lạc tại xã S, huyện D. Đến năm 2021, bà T phát hiện bà Nguyễn Thị T1 đang sử dụng, quản lý một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 7 trên vì thửa đất của bà T giáp ranh với thửa đất số 60, tờ bản đồ số 8 của bà T1. Theo đo vẽ thực tế, diện tích đất mà bà T1 đang lấn chiếm, quản lý, sử dụng là 2087,6m² nên bà T trồng 8 trụ cột bê tông làm ranh giới theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng sau đó bà T1 đã nhổ các trụ này.

Nay, bà T yêu cầu bà T1 trả lại phần đất diện tích 2087,6m² thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 7 tại xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Bà T rút một phần yêu cầu khởi kiện về bồi thường thiệt hại tài sản với số tiền 500.000 đồng liên quan đến 8 trụ rào bê tông mà bà T1 đã tháo dỡ và đồng ý thanh toán cho bà T1 giá trị tài sản, cây trồng của bà T1 trên diện tích 2087,6m² đất theo biên bản định giá tài sản là 26.533.780 đồng.

Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 trình bày:

Năm 1991, bà T1 mua đất của ông Nguyễn P (địa chỉ tại thôn Đ, xã D, nay là xã B) mua bằng giấy tay (nay ông Nguyễn P đã mất). Khi mua, ông P chỉ cho bà T1 vùng đất ông bán chứ bà T1 không biết ranh giới, số thửa, tờ bản đồ và diện tích cụ thể bao nhiêu. Sau khi mua, bà T1 trồng mì, đào múc 01 hồ nước có 03 ụ gò mối, xác định phía trên 03 ụ gò mối là đất của bà T còn phía dưới 3 ụ gò mối là đất của bà T1.

Năm 2004, ông Phan Hoàng A là địa chính xã mời bà T1 lên kê khai cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 31546m² và báo cho bà T1 biết bà chỉ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng với diện tích đất 15465m² vì phần diện tích đất còn lại đã được mẹ bà T1 là bà Nguyễn Thị T2 kê khai và đứng tên quyền sử dụng đất.

Sau đó, bà T1 yêu cầu bà T2 chuyển quyền sử dụng phần diện tích đất mà bà T1 đang sử dụng trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bà T2 đã kê khai sang cho bà T1 nhưng bà T2 không chuyển. Đến năm 2006, bà T2 mới làm giấy chuyển quyền sử dụng cho bà T1 thửa đất số 60, 61 tờ bản đồ số 8 tại xã S, huyện D. Khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bà T1 cũng không biết diện tích đất được cấp là bao nhiêu và diện tích đất bà đang sử dụng là bao nhiêu, bà chỉ biết bà đang sử dụng đúng hiện trạng đất mua của ông P từ xưa tới nay. Diện tích đất bà T1 đang sử dụng, các tài sản, cây trồng trên đất là tài sản riêng của bà T1 tạo lập không liên quan đến ai khác. Bà T1 không đồng ý với yêu cầu đòi đất của bà T vì đất này là của bà T1 mua của ông P và sử dụng từ năm 1991 cho đến nay. Bà T1 không có ý kiến gì đối với tài sản, hồ nước và cây trồng trên đất mà bà T1 đã tạo lập.

Bản án dân sự sơ thẩm số: 24/2023/DS-ST ngày 14/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ khoản 5, khoản 7 Điều 166, khoản 1, khoản 5 Điều 170 Luật Đất đai 2013; Điều 164, Điều 166, Điều 174, Điều 175, Điều 176 và Điều 185 Bộ luật Dân sự 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, quyết định:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T. Buộc bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị T 2087,6m² đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 7 tại xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE584813, số vào số cấp GCN: CH00459 ngày 28/6/2011 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa cấp cho bà Nguyễn Thị T (Có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
  2. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là 08 trụ rào với số tiền 500.000 đồng.
  3. Về phần tài sản, cây trồng trên đất: Bà Nguyễn Thị T1 phải tự san lấp hồ nước, di dời các cây trồng trên đất, khôi phục tình trạng ban đầu, trả lại diện tích đất 2087,6m² thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 7 tại xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa cho bà Nguyễn Thị T.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 17/11/2023, bị đơn bà Nguyễn Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp đối với phần đất nguyên đơn tranh chấp.

Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm, Ủy ban nhân dân huyện D được đưa vào tham gia tố tụng với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có văn bản trình bày ý kiến như sau: Ủy ban nhân dân huyện D đồng ý tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm với tư cách người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Việc Ủy ban nhân dân huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE584813, số vào số cấp GCN: CH00459 ngày 28/6/2011 cho bà Nguyễn Thị T được thực hiện theo đúng qui định của pháp luật.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm:

Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Có đủ căn cứ để xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà Nguyễn Thị T1, việc UBND huyện D cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH00459 ngày 28/6/2011 cho bà Nguyễn Thị T bao gồm cả phần đất của bà T1 là trái pháp luật, cần hủy bỏ; Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là không đúng. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền kháng cáo của đương sự, đề nghị căn cứ Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ cho Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Phần đất nguyên đơn bà Nguyễn Thị T tranh chấp với bị đơn bà Nguyễn Thị Thúy H do bà T1 đang trực tiếp sử dụng có diện tích 2.087,6m², loại đất cây hàng năm khác (phần đất ký hiệu 37-2 theo Trích đo địa chính kèm theo bản án) nằm trong thửa đất số 37 tờ bản đồ số 7 tọa lạc tại xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa. Thửa đất 37 trên đã được Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE584813, số vào số cấp GCN: CH00459 ngày 28/6/2011 cho cho bà Nguyễn Thị T. Phần còn lại của thửa đất 37 (ký hiệu 37-1 theo Trích đo địa chính kèm theo bản án) hiện do bà T trực tiếp sử dụng, các bên không tranh chấp.
  2. Theo lời khai của bà T và tài liệu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 37 do Văn phòng Đ chi nhánh tại huyện D cung cấp thì thửa đất 37 nằm trong vùng đất có tục danh Trảng Cốc do mẹ bà T là bà Nguyễn Thị T2 mua của ông Võ S năm 1954; năm 1991, bà T2 cho bà T phần đất này. Tuy nhiên, giấy bà T2 mua đất của ông Võ S không thể hiện tứ cận đất bà T2 mua, thửa đất 37 thuộc vùng đất có tục danh là Hòn Chu như thừa nhận của cả nguyên đơn và bị đơn, không phải là Trảng C như trong giấy bà T2 mua đất; bản thân bà T2 cũng không kê khai đối với thửa đất 37 này. Bà T1 thì cho rằng đất đang tranh chấp nằm trong phần đất bà mua của ông Nguyễn P nhưng không cung cấp được giấy mua bán, bản thân ông Nguyễn P cũng chưa từng kê khai thửa đất này. Như vậy, tại thời điểm năm 1991 khi bà T và bà T1 bắt đầu sử dụng đất, các bên đều không có giấy tờ chứng minh quyền sử dụng đất.
  3. Về thực tế sử dụng đất: Bà Nguyễn Thị T và bà Nguyễn Thị T1 đều thừa nhận việc hai bên sử dụng đất liên tục từ năm 1991 đến nay mà không có tranh chấp, đất của ai người đó sử dụng, ranh giới đất giữa hai bên là hàng cây bụi và các ụ mối tồn tại từ xưa đến nay; quá trình sử dụng đất, bà T1 còn đào ao sát ranh đất hai bên để lấy nước trồng trọt; khoảng năm 2018-2019, với mục đích kiểm tra lại ranh giới đất với chủ đất nằm phía Bắc phần đất bà T đang sử dụng, bà T đã yêu cầu cán bộ địa chính đo đạc lại đất thì mới biết phần đất bà T1 đang sử dụng nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho bà T nên hai bên mới phát sinh tranh chấp.
  4. Sổ Mục kê đất đai năm 2003 lưu tại Ủy ban nhân dân xã S thể hiện bà T1 là người đứng tên chủ sử dụng đất đối với thửa đất 37, sau đó tên bà T1 bị gạch đi và ghi tên bà T vào mà không rõ lý do. Bản thân bà T1 không tranh chấp phần đất còn lại của thửa đất 37 hiện bà T đang sử dụng với bà T và thừa nhận đó là đất của bà T.
  5. Như vậy, có đủ căn cứ xác định phần đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà T1. Bà T yêu cầu bà T1 trả lại phần đất này là không có căn cứ. Việc Ủy ban nhân dân huyện D cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T năm 2011 đối với thửa đất 37 bao gồm cả phần đất của bà T1 là sai. Căn cứ Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án cấp phúc thẩm hủy bỏ giấy chứng nhận này. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào việc bà T1 không cung cấp được giấy mua đất của ông Nguyễn P và căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đã được cấp cho bà T để xác định đất tranh chấp thuộc quyền sử dụng của bà T và buộc bà T1 trả lại đất cho bà T là đánh giá chứng cứ không đầy đủ, cần sửa bản án sơ thẩm.
  6. Đây là vụ án dân sự, việc hủy bỏ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho bà T tại Tòa án cấp phúc thẩm là kết quả của việc Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về nội dung tranh chấp như đã nhận định ở trên nên đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa về hủy bản án sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử lại sơ thẩm theo hướng hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà T1 với lý do để đảm bảo quyền kháng cáo của đương sự không được chấp nhận.
  7. Quyết định đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản là 08 trụ rào với số tiền 500.000 đồng của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên được giữ nguyên. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không dẫn chiếu Điều 244 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong Phần quyết định của bản án khi đình chỉ yêu cầu khởi kiện trên của nguyên đơn là thiếu sót, Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung cho đủ.
  8. Về chi phí tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T phải chịu toàn bộ chi phí tố tụng. Nguyên đơn đã nộp đủ chi phí tố tụng tại giai đoạn xét xử sơ thẩm là là 13.831.000đ. Bị đơn tự nguyện chịu toàn bộ chi phí tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và đã nộp đủ nên nguyên đơn không phải hoàn trả số tiền này cho bị đơn.
  9. Án phí: Do Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bà T1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà T nên bà T1 không phải chịu án phí phúc thẩm và bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà T yêu cầu được miễn án phí vì là người cao tuổi nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bà T theo qui định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 244, khoản 2 Điều 308, Điều 309, Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 8 Bộ luật Dân sự năm 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử: Sửa bản án sơ thẩm.

  1. Đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc yêu cầu bị đơn bà Nguyễn Thị T1 bồi thường thiệt hại về tài sản là 08 trụ rào với số tiền 500.000 đồng.
  2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T về việc bà Nguyễn Thị T1 phải trả cho bà Nguyễn Thị T 2087,6m² đất thuộc thửa đất số 37, tờ bản đồ số 7 tại xã S, huyện D, tỉnh Khánh Hòa (phần đất ký hiệu 37-2 theo Trích đo địa chính kèm theo bản án)
  3. Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BE584813, số vào số cấp GCN: CH00459 ngày 28/6/2011 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Khánh Hòa cấp cho bà Nguyễn Thị T.

  4. Chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị T phải chịu 13.831.000 đồng chi phí tố tụng tại giai đoạn sơ thẩm và đã nộp đủ. Bà Nguyễn Thị T1 tự nguyện chịu chi phí tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và đã nộp đủ.
  5. Án phí:
    • 4.1. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị T. Trả lại cho bà T 3.000.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2019/0002148 ngày 19/3/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.
    • 4.1. Trả lại cho bà Nguyễn Thị T1 300.000 đồng tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001030 ngày 28/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - TAND huyện Diên Khánh;
  • - Chi cục THADS huyện Diên Khánh;
  • - Lưu: VP, Tòa DS, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2024/DS-PT ngày 23/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản

  • Số bản án: 110/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 23/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại về tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger