|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA Bản án số: 110/2023/HS-ST Ngày: 28-12-2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Nguyễn Văn Tuấn |
| Thẩm phán: | Bà Huỳnh Thị Xuân Oanh |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Nguyễn Xuân Hà |
| Ông Mai Gia Cát | |
| Ông Trần Văn Thành |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Cao Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa: Ông Hoàng Anh Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 144/2023/TLST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Đỗ Nhật D; Sinh ngày: 27/12/1990 tại Khánh Hòa; Giới tính: Nam; HKTT : Đội 2, thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Chỗ ở hiện nay: Đ, thôn P, xã V, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 12/12; Họ tên cha: Đỗ Cao D1, sinh năm 1967; Họ tên mẹ: Bùi Thị Thanh X, sinh năm 1967; Tôn Học V: Lưu Thị H, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con: có 01 con sinh năm 2020; Tiền án, Tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 24/3/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Bùi Thị N và Luật sư Đặng Trường T, Văn phòng Luật sư Đặng Văn P thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Công ty TNHH D2; địa chỉ: B Y, quận Đ, thành phố Hà Nội. Người đại điện theo pháp luật: Ông Đoàn Duy L – Tổng Giám đốc; địa chỉ: Số I đường C, phường Đ, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Đỗ Xuân M – Nhân viên pháp chế Công ty TNHH D2. Địa chỉ: Tòa nhà Z, số A phố D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội. Vắng mặt tại phiên tòa
- Ông Nguyễn Trần K – Nhân viên Chi nhánh Công ty TNHH D2 tại Khánh Hòa; địa chỉ: B P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH G; Người đại diện theo pháp luật: Huỳnh Thị Ngọc N1 - Giám đốc Cùng địa chỉ: Lô A đường A, KĐT L, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa
- Công ty TNHH V1; Người đại diện theo pháp luật: Nguyễn Hoài C - Giám đốc Cùng địa chỉ: B S, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa
- Công ty TNHH M1; Người đại diện theo pháp luật: Dương Ngọc C1 - Giám đốc Cùng địa chỉ: Số A B, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Công ty cổ phần D3; địa chỉ: 5 C, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt tại phiên tòa.
- Trần Tuấn H1; địa chỉ: 5 M, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Bùi Ngọc A; địa chỉ: Tổ B H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Phạm Thị Trúc T1; địa chỉ: C L, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
- Ông Nguyễn Đinh Văn K1, sinh năm 1980; địa chỉ: E N, phường B, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt tại phiên tòa
- Nguyễn Thành L1; địa chỉ: A B, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Công ty TNHH D2 (sau đây gọi tắt là Công ty F) có trụ sở chính tại B Y, Quận Đ, TP Hà Nội do ông Đoàn Duy L là Tổng giám đốc Công ty - Đại diện theo pháp luật của Công ty.
Ngày 17/01/2017, Công ty F thành lập chi nhánh Công ty TNHH D2 tại Khánh Hòa (gọi tắt Công ty F - Chi nhánh K2), địa chỉ tại B đường P, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa do ông Nguyễn Đinh Văn K1 làm Giám đốc chi nhánh.
Ngày 16/10/2017, ông Đoàn Duy L bổ nhiệm Đỗ Nhật D giữ chức vụ Trưởng phòng kinh doanh dịch vụ thuộc Công ty F - Chi nhánh K2. Cùng ngày ông L ký Quyết định ủy quyền số 252.2/2017/QĐ/FSC ủy quyền cho Đỗ Nhật D được ký tên và đóng dấu chi nhánh đối với các hợp đồng bán hàng hóa, dịch vụ giá trị đến 100 triệu đồng tại Chi nhánh K2.
Từ tháng 02/2020 đến ngày 31/8/2020, Đỗ Nhật D lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao tại Công ty F - Chi nhánh K2 đã yêu cầu nhân viên dưới quyền lập khống nhiều hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa với 48 đơn vị đối tác; hóa đơn thể hiện bán hàng hóa cho đối tác nhưng thực tế không phát sinh giao dịch mua bán hàng hóa. Sau đó D lấy khối lượng hàng hóa (chủ yếu là laptop, điện thoại Iphone..) đã xuất trên hóa đơn để bán cho các đơn vị khác dưới mức giá vốn để thu tiền mặt. Số lượng hàng hóa này được Công ty F1 - Chi nhánh K2 tổng hợp trong Bảng tổng hợp công nợ khách hàng gồm 86 bộ hồ sơ.
Cũng trong khoảng thời gian trên, Đỗ Nhật D đã lợi dụng chức vụ quyền hạn là Trưởng phòng kinh doanh dịch vụ yêu cầu nhân viên dưới quyền không trực tiếp đi giao hàng, bán hàng, thu tiền khách hàng mà phải do Duy tự đảm nhiệm. Đồng thời, D yêu cầu Phạm Thị Trúc T1 (kế toán kiêm thủ kho) giao chìa khóa kho để D tự ý lấy hàng ra khỏi kho của Công ty F - Chi nhánh K2, sau đó đem bán cho các đơn vị khác dưới mức giá vốn để thu tiền mặt. Đối với số hàng hóa này, D chưa kịp xuất khống hóa đơn để hợp thức hóa hành vi của bản thân. Số lượng hàng hóa này được Công ty F - Chi nhánh K2 tổng hợp trong Bảng danh sách hàng hóa tổn thất gồm 27 bộ hồ sơ (có danh sách kèm theo).
Toàn bộ số hàng hóa nêu trên, D mang bán cho cửa hàng điện thoại di động H, địa chỉ tại A đường B, phường V, thành phố N anh Trần Tuấn H1 làm chủ; cửa hàng Đ, địa chỉ I Bà T, phường P, thành phố N do Bùi Ngọc A làm chủ. Việc mua bán với hình thức sang tay, không có giấy tờ chứng minh. Hai cửa hàng trên thanh toán cho D bằng hình thức chuyển khoản, hoặc trả tiền mặt.
Số tiền mặt thu được sau khi bán tất cả số lượng hàng hóa nêu trên, Đỗ Nhật D khai nhận lấy một ít nộp về Công ty F để thanh toán cho số hóa đơn khống đã lập trong thời gian trước đó nhằm tránh bị quá hạn để không bị phát hiện, số còn lại D sử dụng vào mục đích cá nhân.
Quá trình điều tra, D khai nhận toàn bộ số tiền bán hàng trên D đều nộp về lại cho Công ty nhưng là để thanh toán cho các đơn hàng mà D đã xuất khống vào khoảng thời gian trước năm 2020. Đồng thời, D sử dụng tiền thu được từ việc bán hàng của công ty để mua hàng tự doanh, sử dụng cho chi phí vận chuyển, mua sắm trang thiết bị cho chi nhánh công ty, trả lương cho nhân viên tự tuyển dụng, chi phí cho các khoản ngoại giao, chi phí thuê dịch vụ cài đặt, chi phí quảng cáo marketing, chi phí vật tư triển khai phụ.”. Tuy nhiên, D không cung cấp được bất kỳ tài liệu, chứng từ nào thể hiện nội dung này.
Xác minh tại 48 đơn vị mà D xuất hóa đơn khống bán hàng có 03 Công ty thực tế có mua hàng gồm:
- + Công ty TNHH G do chị Huỳnh Thị Ngọc N1 làm Giám đốc Công ty xác định có mua hàng là các thiết bị viễn thông tin học theo 12 hóa đơn giá trị gia tăng của Công ty F Chi nhánh K2 với tổng số tiền là 199.508.001 đồng. Số tiền này chị N1 đã thanh toán và chủ yếu giao tiền mặt cho D và nhân viên của Công ty F, có lần chuyển khoản đến tài khoản ngân hàng của D.
- + Công ty TNHH M1 do anh Dương Ngọc C1 làm Giám đốc xác định có sử dụng dịch vụ thay cảm ứng Ipad air, ép kính Iphone X theo Hóa đơn giá trị gia tăng số 0002294 ngày 28/7/2020 với số tiền 2.400.000 đồng; anh C1 đã đưa trực tiếp tiền mặt cho D.
- +Công ty TNHH V1 do chị Nguyễn Thị T2 làm Giám đốc xác định có mua hàng là các thiết bị viễn thông tin học của Công ty F Chi nhánh K2 theo 03 hóa đơn giá trị gia tăng với tổng số tiền là 45.925.000 đồng. Số tiền này chị T2 đã thanh toán tiền mặt cho Đỗ Nhật D.
Đối với 45 công ty còn lại qua xác minh đều không có giao dịch mua hàng với Chi nhánh Công ty TNHH D2 tại Khánh Hòa.
Kết quả xác minh Từ 01/01/2020 đến 31/12/2020, Đỗ Nhật D và Phạm Thị Trúc T1 đã chuyển vào tài khoản của Công ty TNHH D2 số tiền 8.288.784.000₫ gồm 91 khoản. Tuy nhiên toàn bộ số tiền này không có khoản nào thanh toán cho các đơn hàng nằm trong Bảng tổng hợp công nợ khách hàng (gồm 86 bộ hồ sơ) và Bảng danh sách hàng hóa tổn thất (gồm 27 bộ hồ sơ). Toàn bộ số tiền này là để thanh toán cho các đơn hàng khác mà Chi nhánh Công ty TNHH D2 tại Khánh Hòa đã xuất bán, thu tiền và chuyển trả về cho Công ty theo qui định. Công ty cũng đã tất toán toàn bộ hồ sơ trên hệ thống.
Công ty xác định toàn bộ chi phí mua hàng hóa, tài sản, chi phí phục vụ hoạt động kinh doanh của chi nhánh công ty tại Khánh Hòa đều được chi từ nguồn vốn của Công ty, có hóa đơn chứng từ và không liên quan đến tiền của Đỗ Nhật D. Việc D sử dụng tiền bán hàng như thế nào thì công ty hoàn toàn không biết và cũng không có chứng từ thể hiện.
Ngày 13/02/2023, Đỗ Nhật D và ông Nguyễn Trần K - Đại diện Công ty TNHH D2 - Chi nhánh tỉnh K2 đã trực tiếp làm việc và xác nhận số hàng hóa mà Đỗ Nhật d chiếm đoạt có giá trị như sau:
- - Giá trị hàng hóa bị Đỗ Nhật D chiếm đoạt tại Bảng tổng hợp công nợ khách hàng (gồm 86 bộ hồ sơ) là: 3.896.323.031đ (ba tỉ tám trăm chín mươi sáu triệu ba trăm hai mươi ba ngàn không trăm ba mưới mốt đồng). Giá trị hàng hóa dựa trên giá trị nhập hàng vào của Công ty TNHH D2 - Chi nhánh tỉnh K2.
- - Giá trị hàng hóa bị Đỗ Nhật D chiếm đoạt tại Bảng danh sách hàng hóa tổn thất (gồm 27 bộ hồ sơ) có giá trị là: 994.339.996đ (Chín trăm chín mươi tư triệu ba trăm ba mươi chín ngàn chín trăm chín mươi sáu đồng). Giá trị thiệt hại dựa trên giá trị nhập hàng vào của Công ty TNHH D2 - Chi nhánh tỉnh K2.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa giữ nguyên Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự, Điều 54 Bộ luật Hình sự tuyên xử bị cáo về tội: “Tham ô tài sản”. Đề nghị Hình phạt đối với bị cáo từ 17 năm đến 18 năm tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 15.000.000 đồng nên ghi nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải bồi thường tiếp cho bị hại số tiền 4.875.648.02.7
- Luật sư Bùi Thị N trình bày tranh luận: Luật sư thống nhất với tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố đối với các bị cáo, đồng ý với các tình tiết giảm nhẹ hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị. Tuy nhiên, cần xem xét lại số tiền bị cáo bán giá thấp dẫn đến công ty lỗ và số tiền thực chất bị cáo chiếm đoạt là bao nhiêu, thực tế số tiền bị cáo chiếm đoạt để sử dụng cho cá nhân bị cáo ít hơn số tiền bị cáo bị truy tố. Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã căn cứ vào số tiền bị cáo đã chiếm đoạt để truy tố bị cáo theo điểm a khoản 4 Điều 353 của Bộ luật hình sự nên cần xem xét lại tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự phạm tội nhiều lần đối vưới bị cáo.
Sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khia báo, ăn năn hối cải, thế chấp nhà để khắc phục hậu quả. Bị cáo không được đào tạo về quản trị kinh doanh nên chưa có nghiệp vụ và một phần lỗi của Công ty B quản lý, bổ nhiệm nhân sự không đúng chuyên môn, giao quá nhiều quyền hạn cho bị cáo, hoàn cảnh gia đình rất khó khăn, đã ly hôn vợ, bản thân bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Luật sư Đặng Trường T và bị cáo Đỗ Nhật D đồng ý với ý kiến của Luật sư N và không bổ sung ý kiến.
Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý với nội dung Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Đại diện theo ủy quyền của bị hại đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ nhưng người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt. Xét thấy sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không gây cản trở đối với việc xét xử, căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật sư, bị cáo, bị hại, người làm chứng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Nhật D đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lượi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đã được Cơ quan cảnh sát điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận:
Trong khoảng thời gian từ tháng 02/2020 đến ngày 31/8/2020, tại thành phố N, tỉnh Khánh Hòa, Đỗ Nhật D lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao là Trưởng phòng kinh doanh của Công ty F - Chi nhánh K2 đã yêu cầu nhân viên dưới quyền không trực tiếp di giao hàng, bán hàng, thu tiền khách hàng mà phải do Duy tự đảm nhiệm; D giữ chìa khóa kho và tự lấy hàng hóa ra khỏi kho; yêu cầu nhân viên kế toán lập khống nhiều hóa đơn giá trị gia tăng mua bán hàng hóa để làm thủ tục xuất hàng ra khỏi kho. Sau đó, D đem bán hàng hóa cho các công ty, cửa hàng dưới mức giá vốn thu tiền mặt để tiêu xài cá nhân và thanh toán cho các hóa đơn mà D đã xuất khống với hình thức tương tự. Tổng số tiền mà Đỗ Nhật D chiếm đoạt của Công ty F - Chi nhánh K2 là 4.890.663.027 đồng.
Như vậy, có cơ sở để kết luận rằng, bản cáo trạng số 90/CT-VKSKH-P1 ngày 09 tháng 8 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Đỗ Nhật D về tội “Tham ô tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 353 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ.
[4] Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa đã trả hồ sơ để điều tra bổ sung nhằm làm rõ đối với hành vi của Phạm Thị Trúc T1, Trần Tuấn H1 và Bùi Ngọc A.
Ngày 24/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa có Công văn số 937/VKSKH-P1 trả lời không có căn cứ để xác định Phạm Thị Trúc T1 đồng phạm giúp sức cho bị cáo Đỗ Nhật D. Không đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự đối với Trần Tuấn H1 và Bùi Ngọc A về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” hoặc hành vi “Trốn thuế”.
Theo khoản 1 Điều 298 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, quy định về giới hạn của việc xét xử: Tòa án xét xử những bị cáo và những hành vi theo tội danh mà Viện kiểm sát truy tố. Do đó, Tòa án nhân tỉnh Khánh Hòa kiến nghị các Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền tiếp tục xem xét điều tra làm rõ đối với hành vi của Phạm Thị Trúc T1, Trần Tuấn H1 và Bùi Ngọc A.
[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy:
Bị cáo là người có đầy đủ nhận thức về hành vi của mình nhưng đã vì mục đích vụ lợi mà lợi dụng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn do mình đảm nhiệm trong công tác nhằm “Chiếm đoạt tài sản” trái pháp luật đối với tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý. Tổng giá trị tài sản bị cáo đã chiếm đoạt là 4.890.663.027 đồng. Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của cơ quan, tổ chức được pháp luật bảo vệ. Đồng thời, hành vi của bị cáo còn xâm hại đến hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản lý tài sản, tài chính, kinh tế, gây ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội, ảnh hưởng đến trật tự trị an trong xã hội; Bị cáo đã nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, thể hiện ý thức xem thường pháp luật nên cần xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo mới đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.
Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Nhật D đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, đã bồi thường cho bị hại 15.000.000 đồng, tại phiên tòa đồng ý tiếp tục bồi thường số tiền 4.875.663.027 đ (Bốn tỉ tám trăm bảy mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi nghìn không trăm hai mươi bảy đồng) đã chiếm đoạt cho bị hại, nên cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà yên tâm cải tạo trở thành người công dân có ích cho xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh kinh tế hiện tại của bị cáo Đỗ Nhật D không có tài sản. Do đó, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại 15.000.000 đồng. Tại phiên tòa bị hại là Công ty TNHH D2 yêu cầu bị cáo Đỗ Nhật D tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền là 4.875.663.027 đ (Bốn tỉ tám trăm bảy mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi nghìn không trăm hai mươi bảy đồng). Bị cáo đồng ý bồi thường. Xét đây là sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường giữa bị cáo với bị hại phù hợp với quy định của pháp luật. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện bồi thường trên.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan các ông Trần Tuấn H1 và Bùi Ngọc A không yêu cầu nên không xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH G; Công ty TNHH V1; Công ty TNHH M1; Công ty cổ phần D3 vắng mặt tại phiên tòa, tách ra thành vụ kiện dân sự khác nếu có đơn yêu cầu.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm và tiền án phí dân sự sơ thẩm tương ứng với số tiền phải bồi thường cho bị hại theo bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đỗ Nhật D 20 (Hai mươi) năm tù về tội “Tham ô tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 24/3/2023.
2. Về trách nhiệm dân sự:
Căn cứ Điều 213; Điều 246 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
Căn cứ Điều 584, Điều 585, Điều 589 Bộ luật Dân sự,
Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo với bị hại. Bị cáo Đỗ Nhật D có nghĩa vụ bồi thường cho Công ty TNHH D2; địa chỉ: B Y, quận Đ, thành phố Hà Nội số tiền là 4.875.663.027 đ (Bốn tỉ tám trăm bảy mươi lăm triệu sáu trăm sáu mươi nghìn không trăm hai mươi bảy đồng).
Quy định: Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không chịu thi hành số tiền trên, thì hàng tháng còn phải chịu số tiền lãi theo quy định tại Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Tách ra thành vụ kiện dân sự khác nếu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH G; Công ty TNHH V1; Công ty TNHH M1; Công ty cổ phần D3 có đơn yêu cầu.
3. Về án phí:
Bị cáo Đỗ Nhật D phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 112.875.663 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo:
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án, để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN |
|
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Bản án số 110/2023/HS-ST ngày 28/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tham ô tài sản
- Số bản án: 110/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tham ô tài sản
