|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 110/2021/HSST Ngày 27 - 9 - 2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH - TỈNH NGHỆ AN
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Anh Ngọc.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Thái Văn Thành - Ông Phan Văn Hưng.
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Huyền Trang - Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Tình - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Thành - tỉnh Nghệ An, Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 117/2021/HSST, ngày 14 tháng 9 năm 2021, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 113/2021/QĐXXST-HS ngày 16/9/2021 đối với các bị cáo:
- Trần Đình G (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày 19/7/1994, tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm Đ, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Tiền án: 03 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản”; Nhân thân: Năm 2011 bị đưa vào trường giáo dưỡng; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/3/2021 đến nay. (Có mặt)
- Phạm Xuân T (Tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam; Sinh ngày: 23/9/1993, tại huyện Y, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 2, xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/12; Nhân thân: Năm 2012 bị xử phạt 09 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xóa án tích); Bị cáo tại ngoại. (Có mặt)
- Người bị hại:
- Chị Đặng Thị H, sinh năm 1983. (Vắng mặt)
- Chị Phạm Thị Đ, sinh năm 1991. (Vắng mặt)
- Anh Phạm Văn T, sinh năm 1975. (Vắng mặt)
- Anh Phạm Xuân T, sinh năm 1974. (Vắng mặt)
- Ông Nguyễn Bá D, sinh năm 1967. (Có mặt)
- Ông Phạm Xuân T, sinh năm 1967. (Có mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Bùi Thị L, Anh Ngô Xuân T, Anh Hồ Phi V, Anh Nguyễn Đình T, Chị Võ Thị N, Ông Phan Văn C, Chị Trần Thị Y, Chị Uông Thị C, Ông Dương Văn B, Anh Tạ Khắc T. (Đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Trong khoảng thời gian từ tháng 4 năm 2020 đến tháng 3 năm 2021, Trần Đình G đã 06 lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Y, tỉnh Nghệ An cụ thể:
- Lần thứ nhất: Ngày 27/4/2020, trộm của chị Đặng Thị H 01 điện thoại Samsung J7, 01 Ipad Samsung T331 và 5.000.000đ. Tổng giá trị: 12.000.000đ.
- Lần thứ hai: Ngày 24/5/2020, trộm tại cửa hàng anh Phạm Xuân T nhiều thẻ cào điện thoại, 01 điện thoại OPPO J7 và tiền mặt. Tổng giá trị: 4.880.000đ.
- Lần thứ ba: Ngày 27/5/2020, trộm của anh Phạm Văn T 01 máy tính xách tay DELL và 01 xe mô tô Honda Wave alpha. Tổng giá trị: 14.400.000đ.
- Lần thứ tư: Ngày 15/6/2020, trộm của ông Nguyễn Bá D 01 xe mô tô Honda Wave alpha. Giá trị: 10.800.000đ.
- Lần thứ năm: Ngày 27/02/2021, trộm của ông Phạm Xuân T 01 điện thoại Iphone 6 Plus, 01 đồng hồ đeo tay, 01 máy tính xách tay ASUS và 01 xe mô tô Honda Vision. Tổng giá trị: 34.300.000đ.
- Lần thứ sáu: Ngày 06/3/2021, trộm tại cửa hàng chị Phạm Thị Đ nhiều điện thoại di động, sim thẻ và tiền mặt. Tổng giá trị: 31.150.000đ.
Tổng giá trị tài sản Trần Đình G đã trộm cắp là 107.530.000đ. Đối với Phạm Xuân T, mặc dù biết tài sản do G trộm cắp mà có nhưng vẫn đồng ý giúp G tiêu thụ (xe mô tô trộm của anh Phạm Văn T) nên phải chịu trách nhiệm về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Các quyết định, hành vi của cơ quan tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Hành vi của Trần Đình G đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm c, g khoản 2 Điều 173 BLHS. Hành vi của Phạm Xuân T đủ yếu tố cấu thành tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 Điều 323 BLHS.
[3] Về tính chất vụ án: Vụ án thuộc loại nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân.
[4] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo G có nhân thân xấu, nhiều tiền án, phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm. Cả hai bị cáo đều thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS: Xử phạt bị cáo Trần Đình G 05 (năm) năm tù về tội "Trộm cắp tài sản". Thời hạn tù tính từ ngày 29/3/2021.
2. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1, 2 Điều 65 BLHS: Xử phạt bị cáo Phạm Xuân T 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thử thách 02 (hai) năm về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".
3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Đình G phải bồi thường cho các bị hại số tiền còn thiếu theo quy định pháp luật.
4. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự và dân sự sơ thẩm theo quy định.
|
Nơi nhận: - VKSND H. Yên Thành; - VKSND tỉnh Nghệ An; - THADS Yên Thành; - THA hình sự; - Bị cáo; - TAND tỉnh Nghệ An; - Lưu HS. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Vũ Anh Ngọc |
Bản án số 110/2021/HSST ngày 27/09/2021 của Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An về trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Số bản án: 110/2021/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2021
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1.Căn cứ vào điểm c, g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 của BLHS năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Trần Đình G 05 (năm) năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ , tạm giam đối với bị cáo (Ngày 29/3/2021). 2. Căn cứ vào khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 của BLHS năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Phạm Xuân T 01 (một) năm tù nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thử thách 02 (hai) năm về tội “ Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.Thời hạn thử thách đối với bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 27/9/2021). Giao bị cáo Phạm Xuân T cho UBND xã C, huyện Y, tỉnh Nghệ An giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với UBND xã trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì việc thi hành hình phạt tù cho hưởng án treo được thực hiện theo quy định của pháp luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
