Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SÓC SƠN
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Bản án số: 110/2020/HS-ST
Ngày 27/8/2020
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓC SƠN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Trường.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đăng Hải và Ông Dương Văn Xuyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn tham gia phiên tòa: Ông Vương Xuân Hoan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 8 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 81/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

1. Lê Thị H, sinh năm: 1975, tại Hà Nội. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Sông C, xã Trung G, huyện S, thành phố H; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Văn Bình và bà Nguyễn Thị Hợp; Có chồng là Nguyễn Văn Tần (đã ly hôn) và 02 con, con lớn sinh năm 1995, con nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không. Bị bắt tạm giam từ ngày 11/5/2020 đến nay. Có mặt.

2. Lê Văn N, sinh năm: 1992, tại Hà Nội. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn Bình A, xã Trung G, huyện S, thành phố H; nghề nghiệp: tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Quang Trọng và bà Trịnh Thị Thảo; Có vợ là Trần Thị Liên và 01 con sinh năm 2012; tiền án: không; tiền sự: Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ xử phạt hành chính về hành vi Chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ theo Quyết định số 55 ngày 27/6/2016, mức phạt 15.000.000 đồng (Bị cáo đã nộp phạt ngày 06/7/2016). Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 26/02/2020 đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Hữu C, sinh năm 1987. Trú tại: thôn Triều L, xã Thuận T, thị xã Y, tỉnh N. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 25/02/2020 tại thôn Bình A, xã Trung G, huyện S, thành phố H, Tổ công tác Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra đối với Lê Văn N, qua kiểm tra Nam khai có đem bán 01 gói ma túy cho Lê Thị H sinh năm 1975 ở Sông C, Trung G, huyện S, thành phố H. Nam hiện đang giấu gói ma túy tại xe chở rác cách chỗ Nam đứng khoảng 10 mét. Tổ Công tác đã dẫn Nam đến thu giữ, sau đó đưa Nam cùng tang vật về Công an huyện Sóc Sơn giải quyết. Đối với số tinh thể màu trắng thu của Nam, ngày 25/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn ra Quyết định trưng cầu giám số 85 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội. Tại bản kết luận giám định số 168/KLGĐ-PC09 ngày 04/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong gói nilong màu đen thu giữ của Nam là ma túy loại Methamphetamin, khối lượng: 9,513 gam.

Qua đấu tranh xác định do Nam quen Lê Thị H nên ngày 25/02/2020 Nam được H giao cho 01 gói ma túy được gói trong túi nilon màu đen và dặn Nam mang xuống địa phận thôn Bình An cất giấu sau đó Hà sẽ nhắn tin cho Nam số điện thoại của người mua để Nam liên lạc giao ma túy và thu tiền về. Khoảng 19 giờ 30 ngày 25/02/2020 sau khi được Hà giao cho gói ma túy để vào hốc xe Nouvo biển kiểm soát: 20H1- 02477, Nam đem xuống gần trạm kiểm dịch thuộc thôn Bình A, xã Trung G, huyện S, thành phố H, Nam giấu gói ma túy vào xe chở rác sau đó ra ngồi chờ điện thoại của Hà. Nam đang ngồi chờ thì bị kiểm tra bắt giữ. Khi Nam đang bị kiểm tra thì Hà nhắn tin qua mạng cho Nam, nội dung tin nhắn số điện thoại 0857555576 của người mua ma túy và nội dung: “để chỗ nào đấy rồi gọi nó thu đủ đang 5tr600k”.

Căn cứ vào lời khai của Nam với các tài liệu điều tra thu thập được, ngày 11/5/2020, Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn đã Quyết định khởi tố bị can, ra lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Lê Thị H về tội Mua bán trái phép chất ma túy.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Thị H khai nhận: do quen biết và quan hệ tình cảm với Lê Văn N nên ngày 25/02/2020 sau khi nhận được điện thoại của người có nhu cầu mua ma túy tên là Huỳnh qua số điện thoại 0857555576, Hà đã liên hệ với người bán và mua được ma túy sau đó giao cho Nam đi giao bán lại ma túy và thu tiền mang về cho Hà với số tiền Hà thỏa thuận với người mua là 5.600.000 đồng.

Xác minh số thuê bao 0857555576 người đã đặt mua ma túy của Hà tại Tổng công ty tầng mạng VNPT- Nét cung cấp đăng ký thuê bao trên mang tên là: Nguyễn Thị Thu H1 sinh năm 1991, địa chỉ thôn Cẩm Ho, xã Vĩnh Q, huyện Vĩnh L, tỉnh Thanh H. Kết quả điều tra chị Hà không thừa nhận có đăng ký và sử dụng số điện thoại trên, đồng thời không biết lý do tại sao số điện thoại đó mang tên chị. Xét ngoài lời khai của Lê Thị H không có tài liệu nào khác để xác định chị Hà giao dịch mua ma túy của bị cáo Hà nên Cơ quan điều tra không có căn cứ để xử lý đối với Nguyễn Thị Thu Hà.

Bản cáo trạng số 37/CT-VKS ngày 20/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo Lê Thị H, Lê Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Đối với người bán ma túy cho Hà, Hà khai không biết tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không xác minh làm rõ được.

Đối với chiếc xe mô tô biển kiểm soát 20H1 - 0277 tạm giữ của Nam, kết quả xác minh cho thấy chiếc xe trên là xe của anh Nguyễn Hữu C sinh năm 1987 ở thôn Triều L, xã Thuận T, thị xã Y, tỉnh N. Kết quả xác minh cho thấy khi anh Cường cho Nam mượn không biết Nam sử dụng vào việc đi bán ma túy nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn không xử lý đối với anh Cường và đã trả lại anh Cường chiếc xe máy trên.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố; các bị cáo đều nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố sau khi phân tích nội dung, tính chất vụ án cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh như Cáo trạng đã nêu, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 136, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

  • Xử phạt: Lê Thị H mức án từ 10 đến 11 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 11/5/2020.
  • Xử phạt: Lê Văn N mức án từ 09 đến 10 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 26/02/2020.
  • Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Lê Văn N và giám định viên. Tịch thu sung công 02 điện thoại thu giữ của Nam và 01 điện thoại thu giữ của Hà.
  • Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

[2] Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra; Biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Với mục đích thu lợi, khoảng 20 giờ ngày 25 tháng 02 năm 2020 Lê Thị H đã giao cho Lê Văn N 01 gói ma túy loại Methamphetamine khối lượng 9,513 gam mang xuống thôn Bình A, xã Trung G, huyện S, thành phố H để bán với giá 5.600.000 đồng. Khi Nam mang ma túy đi bán nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị cơ quan Công an bắt giữ.

Hành vi của bị cáo Lê Thị H và Lê Văn N đã phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015. Điều luật quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

i) Heroine, Cocaine, Methamphetamine… có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam.”

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sóc Sơn truy tố Lê Thị H và Lê Văn N về tội Mua bán trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất của vụ án: Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy; xâm hại trật tự, an toàn xã hội; ảnh hưởng đến sức khỏe và sự phát triển nòi giống con người. Tệ nạn ma túy không những làm suy kiệt đến kinh tế của mỗi gia đình mà còn là nguyên nhân gây ra các tội phạm nguy hiểm khác. Các bị cáo nhận thức được hành vi mua bán chất ma túy là vi phạm pháp luật hình sự nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm nhằm mục đích thu lợi bất chính.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn. Trong đó, bị cáo Hà là người đi mua ma túy về để bán, trực tiếp giao dịch với người mua ma túy, giao nhiệm vụ cho bị cáo Nam đi bán ma túy và thu tiền về do đó bị cáo có vai trò cao hơn nên phải chịu trách nhiệm hình sự cao hơn bị cáo Nam.

Với những nhận định trên, xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là rất nghiêm trọng. Do đó, cần tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nữa mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội.

[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự thì ngoài hình phạt chính bị cáo còn có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, xét việc các bị cáo mới thực hiện việc mua bán ma túy, chưa thu được lợi nhuận. Quá trình xác minh tại địa phương cũng thể hiện các bị cáo không có nghề nghiệp và tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

[7] Về vật chứng: đối với 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Lê Văn N và giám định viên, bên trong có chứa ma túy là chất cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 02 chiếc điện thoại di động thu giữ của Lê Văn N, 01 chiếc điện thoại di động thu giữ của Lê Thị H là công cụ, phương tiện các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung công.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

- Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự: Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị H và Lê Văn N phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt bị cáo Lê Thị H 10 (mười) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt tạm giam là ngày 11/5/2020.

Xử phạt bị cáo Lê Văn N 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ là ngày 26/02/2020.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong có chữ ký của Lê Văn N và giám định viên; tịch thu sung công 02 điện thoại di động thu giữ của Lê Văn N, 01 điện thoại di động thu giữ của Lê Thị H (tình trạng vật chứng như Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/6/2020 giữa Công an huyện Sóc Sơn và Chi cục thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn).

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật hình sự; Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí Tòa án: Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án và chỉ có quyền kháng cáo về những vấn đề liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình./.

Nơi nhận:
  • - VKSND huyện Sóc Sơn;
  • - Công an huyện Sóc Sơn;
  • - Trại tạm giam số I Hà Nội;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sóc Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Nguyễn Mậu Trường
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 110/2020/HS-ST ngày 27/08/2020 của Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội về mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 110/2020/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2020
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Khoảng 20 giờ ngày 25/02/2020 tại thôn Bình A, xã Trung G, huyện S, thành phố H, Tổ công tác Công an huyện Sóc Sơn kiểm tra đối với Lê Văn N, qua kiểm tra Nam khai có đem bán 01 gói ma túy cho Lê Thị H sinh năm 1975 ở Sông C, Trung G, huyện S, thành phố H. Nam hiện đang giấu gói ma túy tại xe chở rác cách chỗ Nam đứng khoảng 10 mét. Tổ Công tác đã dẫn Nam đến thu giữ, sau đó đưa Nam cùng tang vật về Công an huyện Sóc Sơn giải quyết. Đối với số tinh thể màu trắng thu của Nam, ngày 25/02/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sóc Sơn ra Quyết định trưng cầu giám số 85 tại Phòng Kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hà Nội. Tại bản kết luận giám định số 168/KLGĐ-PC09 ngày 04/3/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an thành phố Hà Nội kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong gói nilong màu đen thu giữ của Nam là ma túy loại Methamphetamin, khối lượng: 9,513 gam.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger