|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HS-ST
Ngày: 23-7-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN - TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Hồng Phượng
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Hà Duy Hòa
- - Bà Nguyễn Thị Hằng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tri - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 28-6-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST-HS ngày 05-7-2024 đối với bị cáo:
Bùi Văn L (tên gọi khác: Không); Giới tính: Nam
Sinh ngày 24 tháng 12 năm 1983 tại Yên Bái;
Trú tại: Thôn C, xã Đ, huyện T, tỉnh Yên Bái;
Nghề nghiệp: không; Trình độ văn hoá: 4/12; Quốc tịch: Việt Nam
Dân tộc: Kinh Tôn giáo: Không
Con ông: Bùi Kim K Và bà: Nguyễn Thị Hợi
Vợ: Phạm Huyền Thương Và 02 con (con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2016)
Tiền án: 01 (Ngày 21-12-2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”).
Tiền sự: 01 (Ngày 06-5-2024 bị Công an huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 31/QĐ-XPHC ngày 06-5-2024).
1
Nhân thân: Năm 2021, bị Công an thành phố Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 193/QĐ-XPHC ngày 21-10-2021.
Bị cáo bị bắt ngày 01-02-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T – có mặt tại phiên tòa.
* Người làm chứng:
- + Anh Nguyễn Hồng L1, sinh năm 1977 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái.
- + Ông Vũ Minh K1, sinh năm 1959 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã V, huyện T, tỉnh Yên Bái.
- + Ông Vũ Xuân T, sinh năm 1969 (vắng mặt)
- Địa chỉ: Thôn Đ, xã C, huyện T, tỉnh Yên Bái.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bùi Văn L là đối tượng nghiện ma túy để có tiền phục vụ cho nhu cầu của bản thân, ngày 31-01-2024, Bùi Văn L điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 21T9-6696 đến xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái để tìm mua ma túy (loại heroine). Bùi Văn L đã mua được 01 gói ma túy của một người đàn ông dân tộc Mông không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể cách khu vực gần chợ xã T 02 km với giá 3.700.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Bùi Văn L đem về nhà chia thành nhiều gói nhỏ để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Bùi Văn L đã bán cho Nguyễn Hồng L1 02 lần cụ thể như sau:
Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ ngày 31-01-2024, Nguyễn Hồng L1 gọi vào số điện thoại 0862.538.xxx của Bùi Văn L hỏi mua ma túy, Bùi Văn L đang ở xã B nên hẹn L1 đi lên xã B gặp nhau ở đâu thì trao đổi mua bán ở đó. Khi đến đoạn đường gần cây xăng xã B thì Bùi Văn L gặp Nguyễn Hồng L1, tại đây Bùi Văn L đã bán cho Nguyễn Hồng L1 01 gói ma túy với giá 200.000 đồng, số tiền bán ma túy này Bùi Văn L đã chi tiêu cá nhân hết.
Lần thứ hai: Sáng ngày 01-02-2024, Bùi Văn L đang ở nhà ông Vũ Minh K1 thì Nguyễn Hồng L1 gọi điện thoại hỏi mua ma túy, Bùi Văn L đồng ý và chỉ đường cho Nguyễn Hồng L1 đến nhà ông Vũ Minh K1. Tại nhà ông Vũ Minh K1, Bùi Văn L đã bán cho Nguyễn Hồng L1 02 gói ma túy với giá 350.000 đồng. Sau khi mua được ma túy Nguyễn Hồng L1 đã tự ý sử dụng 01 một gói tại nhà ông Vũ Minh K1, Nguyễn Hồng L1 không xin phép và ông K1 không biết việc Nguyễn Hồng L1 sử dụng ma túy tại nhà của mình. Đến khoảng 10h20' thì bị tổ công tác của Đội cảnh sát điều tra tội phạm về hình sự kinh tế, ma túy công an huyện T kiểm tra, Nguyễn Hồng L1 đã tự giác giao nộp: 01 gói giấy màu trắng bên trong có chứa chất bột nén màu trắng nghi là heroine (có trọng lượng 0,01
2
gam là ma túy, loại heroine); Bùi Văn L tự giao nộp số tiền 350.000 đồng là tiền bán ma túy cho Nguyễn Hồng L1 và 03 gói nilon đều được hàn kín một đầu (gồm 01 gói màu trắng và 02 gói màu xanh) bên trong cả ba gói đều chứa chất bột màu trắng nghi là heroine (có trọng lượng 3,58 gam là ma túy, loại heroine). Ngoài ra còn thu giữ của Nguyễn Hồng L1 01 xilanh loại 3ml/cc; thu giữ của Bùi Văn L 01 xe mô tô Yamaha đã cũ biển kiểm soát 21T9-6696 và 01 điện thoại di động VIVO màu trắng cũ đã qua sử dụng.
Tại phiên toà, bị cáo khai báo thành khẩn, bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi mua bán ma túy như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 15/CT-VKSTY ngày 27-6-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái truy tố bị cáo Bùi Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.
- Áp dụng điểm b khoản 2 điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự:
- + Xử phạt bị cáo Bùi Văn L từ 08 năm đến 09 năm tù.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Đề nghị xử lý vật chứng:
- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 xe mô tô Yamaha đã cũ biển kiểm soát 21T9-6696 và 01 điện thoại di động VIVO màu trắng cũ đã qua sử dụng thu giữ của Bùi Văn L.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 350.000 đồng thu giữ của bị cáo Bùi Văn L; truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng Bùi Văn L bán ma túy cho Nguyễn Hồng L1 vào ngày 31-01-2024.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên, không có ý kiến tranh luận gì.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người
3
tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà bị cáo thừa nhận đã có hành vi bán ma túy cho Nguyễn Hồng L1; lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã đủ cơ sở kết luận: Ngày 31-01-2024, Bùi Văn L đã bán 01 gói ma túy, loại heroine cho Nguyễn Hồng L1 với giá 200.000đồng và ngày 01-02-2024, Bùi Văn L đã bán 02 gói ma túy, loại heroine cho Nguyễn Hồng L1 với giá 350.000đồng thì bị Công an phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo Bùi Văn L đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 điều 251 của Bộ luật Hình sự.
[3] Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và sự phát triển của giống nòi. Ma túy là chất gây nghiện, là nguyên nhân phát sinh nhiều tệ nạn xã hội và là nguyên nhân lây truyền căn bệnh HIV, AIDS. Hành vi phạm tội của bị cáo đang bị toàn xã hội bài trừ, lên án đây cũng là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác. Do đó cần phải đưa bị cáo ra xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
[4] Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, nhân thân xấu: Năm 2021, bị Công an thành phố Y xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 193/QĐ-XPHC ngày 21-10-2021 (đã được xóa). Ngày 21-12-2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (chưa được xóa). Ngày 06-5-2024 bị Công an huyện T, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 31/QĐ-XPHC ngày 06-5-2024 (chưa được xóa) nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Từ những nhận định trên, trên cơ sở xem xét toàn diện tính chất, mức độ, hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra
4
khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng cải tạo, giáo dục đối với bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo là người nghiện chất ma túy, không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không cần thiết phải áp dụng phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho Bùi Văn L tại xã T, huyện V, tỉnh Yên Bái do Bùi Văn L không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra xác minh nhưng không xác định được nhân thân lai lịch nên không đủ căn cứ để điều tra xử lý trong vụ án này.
[7] Đối với Nguyễn Hồng L1 là đối tượng nghiện mua ma túy của Bùi Văn L để sử dụng. Xét hành vi của Nguyễn Hồng L1 chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý hành chính là phù hợp.
[8] Đối với Vũ Xuân T quá trình điều tra xác định sáng ngày 01-02-2024, Vũ Xuân T đi cùng Nguyễn Hồng L1 đến nhà Vũ Minh K1 nhưng Vũ Xuân T không biết, không liên quan đến việc Nguyễn Hồng L1 đi mua ma túy. Do đó, cơ quan điều tra không xử lý Vũ Xuân T là phù hợp.
[9] Đối với Vũ Minh K1, quá trình điều tra xác định ngày 01-02-2024, Bùi Văn L đến nhà Vũ Minh K1 chơi sau đó Vũ Minh K1 đi nấu cơm ở dưới bếp thì Nguyễn Hồng L1 và Vũ Xuân T đến. Việc Bùi Văn L trao đổi và bán ma túy cho Nguyễn Hồng L1 và Nguyễn Hồng L1 sử dụng ma túy tại nhà của mình Vũ Minh K1 không biết và không liên quan gì nên cơ quan điều tra không xử lý đối với Vũ Minh K1 là phù hợp.
[10] Về vật chứng:
- Đối với 0,01 gam heroine Nguyễn Hồng L1 tự giác giao nộp cơ quan điều tra đã sử dụng vào việc giám định hết, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với 0,1 gam heroine trích từ 3,58 gam heroine do Bùi Văn L tự giác giao nộp cơ quan điều tra đã sử dụng vào việc giám định, không hoàn lại mẫu vật nên Hội đồng xét xử không xét.
- Đối với 3,48 gam heroine được niêm phong trong một phong bì do Phòng K2 Công an tỉnh Y phát hành mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ do Bùi Văn L – SN 1983 tự giác giao nộp ngày 01-02-2024 tại thôn Đ, xã V, T, Yên Bái (sau khi trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên, chữ ký của Lê Tiến D, Phạm Minh T1, Trần Nhật T2, Bùi Văn L, Trần Văn T3 và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Y; 01 mảnh nilon màu trắng; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng- xét thấy có liên quan đến tội phạm và không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.
5
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 350.000 đồng thu giữ của bị cáo Bùi Văn L do phạm tội mà có; truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng Bùi Văn L bán ma túy cho Nguyễn Hồng L1 vào ngày 31-01-2024.
- Đối với 01 xe mô tô YAMAHA JUPITER màu xanh, biển kiểm soát 21T9-6696, số khung: RLCJ5VT205Y123466; số máy: 5VT2123466 đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu trắng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 863387033723955; số IMEI 2: 863387033723948 thu giữ của Bùi Văn L xét thấy có liên quan đến tội phạm cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.
[10] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[11] Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[12] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có cơ sở và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Bùi Văn L phạm tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
- Về hình phạt: Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Bùi Văn L 09 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt 01-02-2024.
- Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu huỷ: 3,48 gam heroine được niêm phong trong một phong bì do Phòng K2 Công an tỉnh Y phát hành mặt trước phong bì có ghi: Vật chứng thu giữ do Bùi Văn L – SN 1983 tự giác giao nộp ngày 01-02-2024 tại thôn Đ, xã V, T, Yên Bái (sau khi trích mẫu giám định), mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên, chữ ký của Lê Tiến D, Phạm Minh T1, Trần Nhật T2, Bùi Văn L, Trần Văn T3 và 04 hình dấu tròn đỏ của Phòng K2 Công an tỉnh Y; 01 mảnh nilon màu trắng; 02 mảnh nilon màu xanh; 01 mảnh giấy màu trắng; 01 xi lanh loại 3ml/cc đã qua sử dụng.
- - Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 350.000 đồng; 01 xe mô tô YAMAHA JUPITER màu xanh, biển kiểm soát 21T9-6696, số khung: RLCJ5VT205Y123466; số máy: 5VT2123466 đã qua sử dụng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO màu trắng, màn hình cảm ứng, đã qua sử dụng, số IMEI 1: 863387033723955; số IMEI 2: 863387033723948 thu giữ của bị cáo Bùi Văn L.
- - Truy thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng Bùi Văn L bán ma túy cho Nguyễn Hồng L2 vào ngày 31-01-2024.
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Văn L phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm. Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nơi nhận
|
Nguyễn Hồng Phượng |
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Nguyễn Hồng Phượng |
7
8
Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẤN YÊN, TỈNH YÊN BÁI
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Văn L, mua bán trái phep chất ma túy
