Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/KDTM-ST

Ngày: 30-7-2024

“V/v: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Tiến Dũng
  2. Bà Trần Thị Liên

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Hà – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Xuân Trang – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 56/2023/TLST-KDTM, ngày 27 tháng 12 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2024/QĐXXST-KDTM ngày 21 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 16/2024/QĐST-KDTM, ngày 17/7/2024; giữa các đương sự:

+ Nguyên đơn: Công ty Cổ phần C.

Đại diện theo pháp luật: Ông Trần Thanh H. Chức vụ: Giám đốc

Địa chỉ: Thôn A, xã C, T, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện theo ủy quyền: Bà Trần Thị Ngọc T, sinh năm 1985 (Có mặt)

Địa chỉ: Số B, đường A, thôn A, xã C, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

+ Bị đơn: Công ty TNHH Đ.

Đại diện theo pháp luật: Ông Lê Vũ Trường H1. Chức vụ: Giám đốc. (Vắng mặt)

Địa chỉ: Số C V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn, bà Trần Thị Ngọc T trình bày:

Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ Phần C đã ký Hợp đồng Mua bán hàng hóa số 1409/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 14 tháng 09 năm 2022 và Hợp đồng số 1909/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 19 tháng 09 năm 2022 về việc mua bán ống bê tông ly tâm. Theo Điều IV của Hợp đồng thì Công ty TNHH Đ sẽ thanh toán tiền trước khi Công ty Cổ Phần C giao hàng tuy nhiên để tạo điều kiện cho Công ty TNHH Đ được hoạt động liên tục công trình không bị gián đoạn nên Công ty Cổ Phần C đã giao hàng trước theo như số lượng mà Công ty TNHH Đ yêu cầu.

Tại Biên bản đối chiếu công nợ, ngày 10/6/2023: Tính đến hết ngày 31/5/2023, Công ty TNHH Đ còn nợ Công ty Cổ phần C số tiền 141.758.400 đồng.

Tại Đơn khởi kiện, Công ty TNHH Đ còn nợ tiền Công ty Cổ Phần C như sau:

Tiền gốc chậm trả: 141.758.400 đồng (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm đồng.)

T1 lãi chậm trả: 17.211.150 đồng (Lãi suất 10% /năm trên số tiền gốc chậm trả từ 01/01/2023 đến 30/11/2023) (Đính kèm bảng tính tiền lãi chậm trả và phạt vi phạm Hợp đồng)

Tiền phạt vi phạm Hợp đồng: 26.229.590 đồng (5% giá trị thực hiện Hợp đồng).

Tổng tiền Công ty TNHH Đ còn nợ Công ty Cổ Phần C đến ngày 30/11/2023: 185.199.140 đồng (Bằng chữ: Một trăm tám mươi lăm triệu, một trăm chín mươi chín nghìn, một trăm bốn mươi đồng).

Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Cổ phần C thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH Đ thanh toán cho Công ty Cổ phần C số tiền còn nợ là 148.846.320 đồng. Trong đó: tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng; Tiền phạt vi phạm hợp đồng = 141.758.400 x 5% = 7.087.920 đồng.

* Đại diện của Bị đơn Công ty TNHH Đ trình bày:

Phía Bị đơn thống nhất với phần trình bày của Nguyên đơn về quá trình ký kết hợp đồng, đối chiếu công nợ.

Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ Phần C đã ký Hợp đồng Mua bán hàng hóa số 1409/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 14 tháng 09 năm 2022 và Hợp đồng số 1909/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 19 tháng 09 năm 2022 về việc mua bán ống bê tông ly tâm.

Đến ngày 10/6/2023, hai bên tiến hành đối chiếu công nợ. Theo đó, tính đến ngày 31/5/2023: Công ty TNHH Đ còn nợ Công ty CP C số tiền là 141.758.400 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, Công ty Cổ phần C yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH Đ thanh toán cho Công ty Cổ phần C số tiền còn nợ là 148.846.320 đồng. Trong đó: tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng; Tiền phạt vi phạm hợp đồng = 141.758.400 x 5% = 7.087.920 đồng.

Phía bị đơn có ý kiến như sau:

Phía bị đơn xác nhận còn nợ Nguyên đơn số tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 7.087.920 đồng.

Phía Công ty TNHH Đ đồng ý thanh toán cho Công ty Cổ phần C số tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng. Còn tiền phạt vi phạm hợp đồng là 7.087.920 đồng, phía Công ty TNHH Đ đề nghị Công ty Cổ phần C không tính cho phía Bị đơn.

Về thời gian thanh toán: Trễ nhất là ngày 20/6/2024, phía bị đơn sẽ thanh toán cho nguyên đơn số tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng nói trên.

Do các đương sự không thỏa thuận được việc giải quyết toàn bộ nội dung vụ án nên tòa án đưa vụ án ra xét xử. Mặc dù Đại diện theo pháp luật của Bị đơn đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng Đại diện của bị đơn vẫn vắng mặt, không có lý do. Căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa.

Tại phiên tòa,

Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng; Bị đơn không thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty Cổ phần C: Buộc Công ty TNHH Đ trả cho Công ty Cổ phần C số tiền nợ mua hàng 141.758.400 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 7.087.920 đồng.

+ Về án phí: Các đương sự phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ xuất phát từ Hợp đồng mua bán hàng hóa nên HĐXX xác định đây là vụ án tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn Công ty TNHH Đ có địa chỉ theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp: Số C đường V, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Căn cứ vào khoản 1 Điều 30; điểm b khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk giải quyết là đúng thẩm quyền.

[2] Về thủ tục tố tụng: Đại diện theo pháp luật của Bị đơn ông Lê Vũ Trường H1 – Giám đốc Công ty TNHH Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do. Do đó, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt Đại diện theo pháp luật của Bị đơn là đảm bảo đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại Đơn khởi kiện, Công ty TNHH Đ còn nợ tiền Công ty Cổ Phần C như sau: Tiền gốc chậm trả: 141.758.400 đồng (Bằng chữ: Một trăm bốn mươi mốt triệu, bảy trăm năm mươi tám nghìn, bốn trăm đồng); T1 lãi chậm trả: 17.211.150 đồng (Lãi suất 10% /năm trên số tiền gốc chậm trả từ 01/01/2023 đến 30/11/2023) (Đính kèm bảng tính tiền lãi chậm trả và phạt vi phạm Hợp đồng); Tiền phạt vi phạm Hợp đồng: 26.229.590 đồng (5% giá trị thực hiện Hợp đồng).

Quá trình giải quyết vụ án, Nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH Đ thanh toán cho Công ty Cổ phần C số tiền còn nợ là 148.846.320 đồng. Trong đó: tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng; Tiền phạt vi phạm hợp đồng = 141.758.400 x 5% = 7.087.920 đồng. Xét việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn không vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện ban đầu. Căn cứ khoản 1 Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự: HĐXX chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

[3] Về nội dung vụ án:

Công ty TNHH Đ và Công ty Cổ Phần C đã ký Hợp đồng Mua bán hàng hóa số 1409/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 14 tháng 09 năm 2022 và Hợp đồng số:1909/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 19 tháng 09 năm 2022 về việc mua bán ống bê tông ly tâm.

Theo các hợp đồng nói trên, thì bên B (Bên bán) Công ty Cổ Phần C bán ống bê tông cốt thép ly tâm cho bên A (Bên mua) Công ty TNHH Đ - Do ông Lê Vũ Trường H1 – Giám đốc Công ty là Đại diện theo pháp Luật.

Theo Điều 1 Hợp đồng mua bán hàng hóa số 1409/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 14 tháng 09 năm 2022 xác định tổng giá trị đơn hàng là 681.199.200 đồng;

Theo Điều 1 Hợp đồng số 1909/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 19 tháng 09 năm 2022 xác định tổng giá trị đơn hàng là 241.315.200 đồng

Theo các Hợp đồng mua bán hàng hóa nói trên, có chữ ký, đóng dấu của Bên bán là Công ty Cổ Phần C; chữ ký, đóng dấu của bên mua là Công ty TNHH Đ.

Phía bên bán là Công ty Cổ Phần C và bên mua là Công ty TNHH Đ đã thực hiện đối chiếu công nợ với nhau. Theo Biên bản đối chiếu công nợ ngày 10/6/2023 thì số công nợ đến ngày 31/5/2023 là: 141.758.400 đồng.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thống nhất xác định bị đơn Công ty TNHH Đ xác nhận còn nợ Nguyên đơn Công ty Cổ phần C số tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng và tiền phạt vi phạm hợp đồng là 7.087.920 đồng.

Tại Điều III của các Hợp đồng mua bán nói trên thì bên bán giao hàng ngay khi nhận được tiền của bên mua. Tuy nhiên, để tạo điều kiện cho bên mua được hoạt động liên tục công trình không bị gián đoạn nên bên bán đã giao hàng trước theo như số lượng mà bên mua yêu cầu. Nhưng từ khi đối chiếu công nợ là ngày 10/6/2023 đến nay, bên mua chưa thanh toán được cho bên bán số tiền nào cả. Như vậy, Công ty TNHH Đ đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 50 và Điều 55 Luật Thương mại 2005.

HĐXX cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty Cổ Phần C: Buộc Công ty TNHH Đ phải thanh toán số tiền còn nợ là 141.758.400 đồng.

[4] Về tiền phạt vi phạm hợp đồng:

Theo Điều V của Hợp đồng Mua bán hàng hóa số 1409/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 14 tháng 09 năm 2022 và Hợp đồng số:1909/22/HĐKT/LEHAI-WDC ngày 19 tháng 09 năm 2022 quy định: Bên vi phạm có trách nhiệm nộp phạt một khoản cho bên bị vi phạm, giá trị khoản phạt vi phạm được tính bằng 5% của Hợp đồng và yêu cầu này đã được phía Bị đơn xác nhận.

Phía Nguyên đơn yêu cầu tính phạt vi phạm hợp đồng theo mức 5% x 141.758.400 đồng (Số tiền nợ mua hàng chưa thanh toán) = 7.087.920 đồng

Vì vậy, cần buộc bị đơn có trách nhiệm trả cho Nguyên đơn số tiền phạt vi phạm hợp đồng là 7.087.920 đồng.

Tổng cộng số tiền mà Bị đơn Công ty TNHH Đ có trách nhiệm thanh toán cho Nguyên đơn Công ty Cổ Phần C là 148.846.320 đồng.

[5] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

[6] Xét quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột là có căn cứ cần chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ vào khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 1 Điều 244, Điều 266, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ Điều 430, Điều 433, Điều 434, Điều 440 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Điều 24, Điều 50, Điều 55, Điều 306 Luật Thương mại năm 2005;
  • - Căn cứ Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn Công ty Cổ phần C.
  2. Buộc Công ty TNHH Đ có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Cổ Phần C tổng số tiền là 148.846.320 đồng. Trong đó: Tiền nợ gốc là 141.758.400 đồng; Tiền phạt vi phạm hợp đồng là 7.087.920 đồng.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Về án phí:

  • - Buộc Công ty TNHH Đ phải chịu 7.442.316đ (Bảy triệu bốn trăm bốn mươi hai nghìn ba trăm mười sáu đồng) tiền án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm.
  • - Công ty Cổ Phần C không phải chịu án phí Kinh doanh thương mại sơ thẩm, được nhận lại 4.630.000₫ (Bốn triệu sáu trăm ba mươi nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số: AA/2023/0004581 ngày 15/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ nơi đương sự cư trú.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Chi cục THADS TP. Buôn Ma Thuột;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/KDTM-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 11/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger