|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Bản án số: 11/2024/HS- ST Ngày: 30 - 5 - 2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Lê Tuyết Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Vĩnh Quý.
- Ông Lê Văn Hiền.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phước Cảnh Sách- Thư ký Toà án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Quảng Điền (Số A N, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế) xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 07/2024/HSST ngày 10 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST- HS ngày 08 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Văn T; giới tính: Nam; sinh ngày 13/3/1991 tại Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: thợ xây dựng; trình độ văn hóa: 06/12; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; con ông Lê Văn T1, sinh năm 1965 và bà Ngô Thị Thu T2, sinh năm 1967. Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Vợ Lê Thị Kiều P, sinh năm 1992, có 02 con lớn nhất 11 tuổi, nhỏ nhất 04 tuổi. Tiền sự: không; tiền án: 01 tiền án.
Quá trình nhân thân: Nhỏ sống với gia đình đi học đến lớp 6/12 nghỉ học ở nhà, sau đó lập gia đình. Ngày 20/6/2009 bị Toà án nhân dân huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 152/2009/HSST. Ngày 26/7/2013 bị Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 12 năm tù về các tội “Cướp tài sản”, “Cướp giật tài sản”, “Hiếp dâm trẻ em” theo bản án số 13/2013/HSST. Bị cáo chấp hành xong hình phạt ngày 25/9/2022 đến ngày 16/02/2024 bị cáo chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội.
Bị cáo bị tạm giam ngày 21/02/2024 cho đến nay. (Có mặt)
- Bị hại: Chị Nguyễn Thị Thùy O, sinh năm 1991 và anh Nguyễn Như Bảo N, sinh năm 1989. Nơi cư trú: 122 Trần Bá S, T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Anh N uỷ quyền cho chị O ). (Đều vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Lê Thị Kiều P, sinh năm 1992 (vợ bị cáo). Nơi cư trú: thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Có mặt).
- Người làm chứng: Ông Nguyễn Như H, sinh năm 1957. Nơi cư trú: 122 Trần Bá S, T, thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Với ý định trộm cắp tài sản của người khác để lấy tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 08 giờ 00 ngày 16 tháng 02 năm 2024, Lê Văn T điều khiển xe mô tô mang BKS 75E1 – 061.54 đi từ nhà của mình đến khu vực T, thị trấn S để tìm kiếm nhà nào sơ hở để trộm cắp tài sản. Khi ngang qua nhà ông Nguyễn Như H ở tại số A T, T, thị trấn S, huyện Q, phát hiện nhà ông H khóa cổng, Tân dựng xe trên đường bên hông nhà, trèo qua hàng rào thép B40, đi đến mở cửa hông bên phải nhà, vào bên trong đến phòng khách thấy camera nên quay lại lấy chiếc dù màu xanh đen, móc ở gần cửa hông che lại để tránh góc quét của camera rồi đi vào phòng ngủ của chị Nguyễn Thị Thùy O và anh Nguyễn Như Bảo N (là con trai và con dâu của ông H) lục tìm tài sản. Tại đây, Tân mở ngăn dưới cùng của tủ để áo quần phát hiện 01 chiếc ví nữ màu hồng và 01 con heo nhựa màu xanh lá cây, T lấy hết số tiền trong ví giấu vào túi áo khoác của mình và để lại ví ở vị trí cũ; T lấy con heo đi ra khỏi phòng ngủ và nhà theo lối cửa hông. T để lại chiếc dù ở vị trí cũ và lấy con dao gần đó rạch con heo ra và lấy hết tiền có trong đó rồi để lại con dao ở vị trí cũ và vứt lại con heo ở gần đó. T rời khỏi nhà ông H bằng lối cũ đã vào và điều khiển xe về lại nhà mình, kiểm tra tài sản đã trộm được với số tiền 3.950.000 đồng (trong đó có 01 tờ tiền polime mệnh giá 500.000 đồng, 12 tờ tiền polime mệnh giá 200.000 đồng, 05 tờ tiền polime mệnh giá 100.000 đồng, 11 tờ tiền polime mệnh giá 50.000 đồng) và 08 tờ tiền đô la M (mỗi tờ mệnh giá 2 đô la Mỹ). Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Tại kết luận định giá tài sản số 36/KL-HĐĐG ngày 27/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản thường xuyên trong tố tụng hình sự huyện Q kết luận: 08 tờ tiền mệnh giá 02 đô la Mỹ có các số seri gồm: K37182937A, F38787223A, G61875912A, G61875913A, Y03647569A, Y03647092A, Y03647091A, C09359754A có tổng trị giá là 383.296 đồng (ba trăm tám mươi ba nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng).
Như vậy, tổng số tiền mà bị cáo T trộm cắp của vợ chồng chị Nguyễn Thị Thùy O và anh Nguyễn Như B Nguyên là 4.333.296 đồng (bốn triệu ba trăm ba mươi ba nghìn hai trăm chín mươi sáu đồng).
-Về thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
- - 01 ví màu hồng kích thước (18x10) cm có dòng chữ “Forever young” đã cũ;
- - 01 chiếc dù màu xanh đen đã cũ;
- - Số tiền 3.950.000 đồng;
- - 08 tờ tiền đô la Mỹ (mỗi tờ có mệnh giá 02 đô la Mỹ).
Ngày 19/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q ra Quyết định xử lý vật chứng số 66/QĐ bằng hình thức trả lại cho chủ sử hữu chị Nguyễn Thị Thùy O những vật chứng nêu trên.
- - 01 xe máy hiệu Honda Wave màu xám trắng đen BKS 75E1-061.54;
- - 01 heo nhựa màu xanh lá cây đã bị cắt;
- - 01 mũ bảo hiểm màu vàng, trắng có dòng chữ “XKLĐ Nhật Bản”;
- - 01 giấy phép lái xe A1 số [...] mang tên Lê Văn T;
- - 01 ví da màu nâu có dòng chữ MONTBLANC đã cũ;
- - 01 áo bun màu đen trắng nâu, đã cũ;
- - 01 áo khoác màu đen đã cũ;
- - 01 đôi dép xỏ ngón màu nâu có dòng chữ BUTASPOTS đã cũ;
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số 00448826 mang tên Lê Thị Kiều P;
- - 01 quần jeans màu đen đã cũ.
Ngày 21/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q đã nhập kho các vật chứng nêu trên theo lệnh nhập kho vật chứng số 34.
- Về trách nhiệm dân sự: Chị O và anh N đã nhận lại đủ tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu đền bù gì.
Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Tại bản cáo trạng số 07/CT- VKSQĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo T mức án từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam 21/02/2024.
- Về xử lý vật chứng: Chị O, anh N đã nhận lại tài sản không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Đề nghị: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
* Các vật chứng bị cáo dùng phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ gồm:
- - 01 heo nhựa màu xanh lá cây đã bị cắt;
- - 01 mũ bảo hiểm màu vàng, trắng có dòng chữ “XKLĐ Nhật Bản”;
- - 01 ví da màu nâu có dòng chữ MONTBLANC đã cũ;
- - 01 áo bun màu đen trắng nâu, đã cũ;
- - 01 áo khoác màu đen đã cũ;
- - 01 đôi dép xỏ ngón màu nâu có dòng chữ BUTASPOTS đã cũ;
- - 01 quần jeans màu đen đã cũ.
* Đối với xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xám trắng đen BKS 75E1-061.54 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe số 00448826 mang tên Lê Thị Kiều P)
là tài sản chung của vợ chồng bị cáo và chị P, bị cáo dùng xe đi thực hiện hành vi trộm cắp nhưng chị P không biết, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước 1/2 giá trị xe trên của bị cáo, trả lại 1/2 giá trị xe cho chị P.
Trả lại cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe A1 số [...] mang tên Lê Văn T;
- Về trách nhiệm dân sự: Chị O, anh N không có yêu cầu bị cáo bồi thường gì về dân sự, nên không xem xét.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 08 giờ 00 phút, ngày 16/02/2024 với ý định trộm cắp tài sản bị cáo T đã lén lút đột nhập vào nhà ông Nguyễn Như H, trú tại: A T, T, thị trấn S, huyện Q trộm cắp tài sản của vợ chồng chị Nguyễn Thị Thùy O và anh Nguyễn Như Bảo N có giá trị 4.333.296 đồng. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo T tại bản cáo trạng số 07/CT- VKSQĐ ngày 10 tháng 4 năm 2024 là có căn cứ pháp luật.
[2] Xét về tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện do thiếu tiền tiêu xài, lười lao động nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hành vi này của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự địa phương nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo T có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt tù nhiều lần, nhưng bị cáo vẫn không tu dưỡng rèn luyện bản thân mà tiếp tục phạm tội, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật nên cần phải xử nghiêm mới có tác dụng giáo dục bị cáo.
[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo T chưa được xoá án tích mà tiếp tục phạm tội nên phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo T được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt và xin bãi nại cho bị cáo được quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ pháp luật.
[5] Về xử lý vật chứng: Chị O, anh N đã nhận lại tài sản bị trộm cắp gồm: 01 ví màu hồng kích thước (18x10) cm có dòng chữ “Forever young” đã cũ; 01 chiếc dù màu xanh đen đã cũ; Số tiền 3.950.000 đồng; 08 tờ tiền đô la Mỹ (mỗi tờ có mệnh giá 02 đô la Mỹ) và không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Các vật chứng bị cáo dùng phạm tội cần tịch thu tiêu huỷ gồm:
- - 01 heo nhựa màu xanh lá cây đã bị cắt;
- - 01 mũ bảo hiểm màu vàng, trắng có dòng chữ “XKLĐ Nhật Bản”;
- - 01 ví da màu nâu có dòng chữ MONTBLANC đã cũ;
- - 01 áo bun màu đen trắng nâu, đã cũ;
- - 01 áo khoác màu đen đã cũ;
- - 01 đôi dép xỏ ngón màu nâu có dòng chữ BUTASPOTS đã cũ;
- - 01 quần jeans màu đen đã cũ.
Xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xám trắng đen BKS 75E1-061.54 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe số 00448826 mang tên Lê Thị Kiều P) là tài sản chung của vợ chồng bị cáo có trong thời kỳ hôn nhân, bị cáo dùng xe này đi trộm cắp chị P không biết, nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước 1/2 giá trị xe máy trên của bị cáo, trả lại 1/2 giá trị xe cho chị P.
Trả lại cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe A1 số [...] mang tên Lê Văn T;
[6] Về trách nhiệm dân sự: Chị O, anh N không có yêu cầu bồi thường gì, nên không xem xét.
[7] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết luận điều tra và bản cáo trạng nên các hành vi, quyết định của cơ quan tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
[8] Về án phí: Bị cáo T phải chịu 200.000 đồng theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lê Văn T 01 (Một) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tính từ ngày bắt bị cáo tạm giam 21/02/2024.
*Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu huỷ:
- - 01 heo nhựa màu xanh lá cây đã bị cắt;
- - 01 mũ bảo hiểm màu vàng, trắng có dòng chữ “XKLĐ Nhật Bản”;
- - 01 ví da màu nâu có dòng chữ MONTBLANC đã cũ;
- - 01 áo bun màu đen trắng nâu, đã cũ;
- - 01 áo khoác màu đen đã cũ;
- - 01 đôi dép xỏ ngón màu nâu có dòng chữ BUTASPOTS đã cũ;
- - 01 quần jeans màu đen đã cũ.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 1/2 giá trị xe máy nhãn hiệu Honda Wave màu xám trắng đen BKS 75E1-061.54 (kèm giấy chứng nhận đăng ký xe số 00448826 mang tên Lê Thị Kiều P) của bị cáo Lê Văn T, trả lại 1/2 giá trị xe cho chị Lê Thị Kiều P.
Trả lại cho bị cáo T 01 giấy phép lái xe A1 số [...] mang tên Lê Văn T;
(Các vật chứng trên có đặc điểm theo bên bản giao nhận vật chứng giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Điền ngày 12/4/2024).
-Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể ngày tuyên án.
Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Lê Tuyết Linh |
Bản án số 11/2024/HS- ST ngày 30/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 11/2024/HS- ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự Sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tân 1 năm tù
