|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2024/DS-ST Ngày 28-6-2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Minh
Bà Bùi Thị Nhàn
Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh - Thư ký Toà án huyện An Dương, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thùy Chi - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 82/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXXST-KDTM ngày 18 tháng 7 năm 2023 và Thông báo thay đổi thời gian xét xử số 118/2024/TB-TA ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần A; Địa chỉ trụ sở chính: Tầng 1.2.3 Tòa nhà G. số C H, phường Ô. quận Đ. thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Võ Đức T – là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (Giấy ủy quyền số 478/2022/UQ-TGĐ.23 ngày 28/7/2023); có mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Như T1, sinh năm 1976 và bà Mai Thị H, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn D, xã L, huyện A, TP Hải Phòng; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: + Ông Hoàng Văn T2, sinh năm 1951và bà Nguyễn Thị T3, sinh năm 1952; địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện A, T.P H; vắng mặt.
+ Ông Hoàng Văn V, sinh năm 1980; địa chỉ: Thôn P, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn L, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 28 tháng 7 năm 2023, tại các bản khai, quá trình tổ tụng và tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần A (Viết tắt là Ngân hàng) do người đại diện theo ủy quyền ông Võ Đức T quyền trình bày:
Ngân hàng cho ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H vay tiền theo hai hợp đồng tín dụng gồm:
- - Hợp đồng tín dụng từng lần số 3566/22/TD-TT/XI.3 ký ngày 29/03/2022, Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng từng lần số 4355/22/PLTD-TT/XI.3 ký ngày 07/04/2022 (Viết tắt là Hợp đồng tín dụng), số tiền vay: 4.200.000.000 đồng, mục đích: Vay mua bất động sản tại thửa đất số 147, tờ bản đồ số 10 tại địa chỉ thôn P, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng; Thời hạn: 360 tháng kể từ ngày 30/03/2022 đến ngày 01/04/2052; Lãi suất cho vay được quy định tại Giấy nhận nợ số 3566/22/TD-TT/XI.3-01 ngày 30/03/2022: 12 tháng đầu tiên là 7.99%/năm, từ tháng 13 trở đi theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ (Lãi suất cơ sở tại thời kỳ đổi lãi tương ứng + biên độ 3.4%/năm), tần suất thay đổi lãi suất 03 tháng/1 lần, kể từ thời điểm 30/3/2022; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn; Lãi suất chậm trả: 10%/năm đối với dư nợ lãi quá hạn.
- - Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế Ngân hàng VISA ngày 19/04/2022 (Viết tắt là Thẻ tín dụng). Hạn mức sử dụng thẻ: 200,000.000 đồng; Mục đích: Thực hiện các giao dịch thanh toán; Thời hạn: Tối đa 03 năm kể từ ngày Ngân hàng phát hành thẻ; Lãi suất khi cho vay: 24%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất trong hạn, lãi suất quá hạn được tính trên dư nợ gốc, phí 11.000đồng/tháng và được tính trên từng giao dịch thẻ áp dụng kể từ ngày liền kề sau khi dư nợ thẻ bị chuyển quá hạn theo quy định của Ngân hàng.
Để bảo đảm cho các khoản vay trên tại Ngân hàng, ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H đã ký Hợp đồng thế chấp bất động sản số 3540/22/TC-TT/XI.3 số công chứng 740/TCTS-NĐC.22, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/04/2022 để thế chấp tài sản là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 147, tờ bản đồ số 10, địa chỉ tại thôn P, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 899311 số vào sổ cấp GCN: CH 00051 do UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/05/2011 cấp cho ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị X, ngày 03/02/2021 đăng ký chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, ngày 04/04/2022 đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H. Tài sản được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại Văn phòng Đ Chi nhánh huyện A, thành phố Hải Phòng ngày 07/4/2022.
Thực hiện các hợp đồng trên, Ngân hàng đã giải ngân cho ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H vay số tiền 4.200.000.000đồng theo Giấy nhận nợ số 3566/22/TD-TT/XI.3-01 ngày 30/03/2022; phát hành, kích hoạt thẻ tín dụng theo Thẻ tín dụng cho ông T1 bà H vào ngày 19/4/2022, ông T1 bà H sử dụng thẻ từ ngày 09/5/2022 để thực hiện các giao dịch thanh và tính đến ngày 01/6/2023 dư nợ gốc của thẻ tín dụng là 189.838.393 đồng (trong đó số tiền chi tiêu thanh toán từ Thẻ tín dụng chưa trả là 189.827.393 đồng và 11.000 đồng phí tin nhắn). Nhưng ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H đã vi phạm nghĩa vụ trả ở từ các hợp đồng tín dụng nêu trên đối với Ngân hàng và phát sinh nợ quá hạn, cụ thể:
Đối với Hợp đồng tín dụng đã phát sinh nợ qua hạn từ 05/5/2023, nợ xấu nhóm 4, hợp đồng này ông T1 bà H đã trả được tổng số tiền là 462.688.461 đồng (trong đó nợ gốc là 104.004.004 đồng, nợ lãi là 322.684.574 đồng) và từ ngày 05/5/2023 đến ngày 28/6/2024 ông T1 bà H không trả bất kỳ khoản tiền nào của Hợp đồng tín dụng.
Đối với Hợp đồng thẻ, ngày 06/01/2023 là ngày cuối cùng ông T1 bà H sử dụng thẻ để thanh toán chi tiêu và phát sinh nợ gốc với số tiền là 189.838.393 đồng, số tiền này ông T1 bà H chưa thanh toán cho Ngân hàng đồng thời phát sinh nợ quá hạn từ ngày 22/5/2022 và kỳ tính lãi quá hạn là vào ngày 20 hàng tháng. Ngân hàng đã yêu cầu ông T1 bà H thanh toán nợ theo các hợp đồng tín dụng nhưng đến nay ông T1 bà H vẫn chưa thành toán được.
Như vậy, tính đến ngày 28/6/2024 ông T1 và bà H còn nợ Ngân hàng tổng số tiền của các hợp đồng nêu trên là 5.034.410.322 đồng, cụ thể: Số tiền nợ theo Hợp đồng tín dụng là 4.743.845.550 đồng, trong đó: nợ gốc là 4.059.995.996 đồng, nợ lãi trong hạn là 664.114.185 đồng và nợ lãi quá hạn là 19.735.369. Số tiền nợ theo Thẻ tín dụng là 290.564.772 đồng, trong đó: nợ gốc là 189.838.393 đồng, nợ lãi và tiền phí là 100.726.379 đồng.
Thời điểm Ngân hàng nhận tài sản thế chấp, Ngân hàng có kiểm tra hiện trạng tài sản trên đất, định giá đối với tài sản thế chấp tại nhà đất thuộc thửa đất số 147 nhưng không đo đạc diện tích thực tế sử dụng của thửa đất; tại thời điểm này ngoài ông T1 bà H thì nhà đất này không có ai sử dụng, vì vậy Ngân hàng không biết ông T2, bà T3, ông V, bà X1 đang sinh sống trên đó, ông T1 và bà H có cung cấp biên bản cam kết ngày 29/3/2022 tài sản trên đất thuộc quyền sở hữa của ông T1 bà H, không bị tranh chấp. Ngân hàng đã thực hiện việc nhận tài sản thế chấp đúng theo quy định, số tiền ông T1 bà H vay tại Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng là để trả tiền mua tài sản nhà đất cho ông Lê Văn N. Do ông T1 và bà H vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu Tòa án buộc ông T1 bà H phải trả nợ cho Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng nêu trên tính đến ngày 28/6/2024 với số tiền là 5.034.410.322 đồng và tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng nêu trên tính từ ngày 29/6/2024 cho đến khi trả xong toàn bộ nợ.
Trường hợp ông T1 bà H không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nêu trên thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản thế chấp để thu hồi khoản nợ. Cụ thể là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 147, tờ bản đồ số 10 tại thôn P, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 899311 số vào sổ cấp GCN: CH 00051 do UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/05/2011 cấp cho ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị X, ngày 03/02/2021 đăng ký chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, ngày 04/04/2022 đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H và theo hiện trạng tài sản thế chấp mà Tòa án đã xem xét thẩm định tại chỗ. Nếu số tiền thu được từ bán/xử lý tài sản bảo đảm vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng, thì ông T1 bà H vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Ngân hàng không đồng ý với quan điểm của ông T2 bà T3 về việc không đồng ý phát mại tài sản thế chấp nêu trên.
Bị đơn ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H không có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần.
Tại biên bản xác minh và biên bản lấy lời khai người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn T2 và Nguyễn Thị T3 trình bày:
Ông Hoàng Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3 là bố mẹ đẻ của anh Hoàng Văn V, chị Nguyễn Thị X là vợ của anh V nhưng vợ chồng đã ly hôn. Thửa đất số 147 nêu trên là tài sản của ông bà đã cho vợ chồng anh V chị X, ông bà và anh V chị X cùng ở trên thửa đất này. Trên đất hiện tại có căn nhà cấp 4 và hệ thống cổng, tường bao, cây cối do ông bà xây dựng lên từ năm 2021, anh V và chị X có làm hai căn nhà ghép kính trên đất để ở. Vào cuối năm 2022 anh V đã bỏ đi khỏi nhà và địa phương đến nay gia đình không biết anh V ở đâu. Còn chị X đã chuyển về nhà ngoại tại xã Đ ở từ tháng 01/2024 (trước thời điểm Tòa án xem xét thẩm định tài sản thế chấp một tuần), trước khi đi chị X đã tháo dỡ toàn bộ hai căn nhà kính và chuyển đồ đạc sinh hoạt đi khỏi thửa đất số 147 nêu trên. Ông bà không biết anh V chị X chuyển nhượng nhà đất nêu trên và cũng không biết anh T1 chị H vay tiền của Ngân hàng. Nay Ngân hàng khởi kiện anh T1 chị H trả tiền vay và có yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là nhà đất tại thửa số 147 thì ông bà không đồng ý với yêu cầu phát mại tài sản của Ngân hàng. Anh T1 chị H là bạn của anh V chị X, ông Lê Văn N ông bà không biết và anh T1 chị H hay anh N chưa lần nào về nhà đất này để ở. Ông bà không có yêu cầu gì đối với các hợp đồng chuyển nhượng đất liên quan đến thửa đất số 147 nêu trên và đề nghị Ngân hàng tạo điều kiện về thời gian cho anh V và vợ chồng anh T1 chị H trả nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị X đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có quan điểm về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện An Dương phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, những người tiến hành tố tụng, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn đã chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không chấp hành các quy định tại Điều 70, 71, 72, 73 của Bộ luật Tố tụng dân sự khi vắng mặt tại phiên họp, phiên tòa không có lý do chính đáng.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 30, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 299, 463, 466, 470, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; các điều 90, 91, 95, 98 Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 6, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H phải trả cho Ngân hàng với số tiền gốc và lãi theo các hợp đồng tín dụng như yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng tính đến ngày 28/6/2024 và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 29/6/2024 theo mức lãi suất thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng đã ký cho đến khi trả xong nợ. Trường hợp ông T1 bà H không trả được nợ hoặc trả không đầy đủ số tiền nợ theo các hợp đồng tín dụng đã ký thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền đất thuộc thửa đất số 147 tờ bản đồ số 10 tại thôn P, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng theo hiện trạng tài sản mà Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ.
Về án phí: Ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H phải chịu án dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng khởi kiện ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H yêu cầu trả nợ theo hợp đồng tín dụng, Ngân hàng là doanh nghiệp và có giấy phép đăng ký kinh doanh, ông T1 bà H vay vốn tại ngân hàng để chi tiêu cá nhân nên đây là tranh chấp hợp đồng dân sự theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú tại huyện A nên vụ án thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân dân huyện An Dương theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về việc vắng mặt của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bị đơn ông Nguyễn Như T1, bà Mai Thị H, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Hoàng Văn V, chị Nguyễn Thị X, ông Hoàng Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do nên căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông Nguyễn Như T1, bà Mai Thị H, ông Hoàng Văn V, bà Nguyễn Thị X, ông Hoàng Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3.
[4] Về yêu cầu trả nợ theo các hợp đồng tín dụng: Hợp đồng tín dụng và Thẻ tín dụng được giao kết giữa Ngân hàng và ông Nguyễn Như T1 bà Mai Thị H, hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật, các bên tham gia hợp đồng trên cơ sở tự nguyện, các thỏa thuận có nội dung không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên phát sinh hiệu lực và buộc các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Quá trình thực hiện hợp đồng, Ngân hàng đã thực hiện đúng nghĩa vụ là giải ngân cho ông T1 bà H vay 4.200.000.000 đồng (theo Hợp đồng tín dụng) tại Giấy nhận nợ ngày 30/3/2022 và phát hành, kích hoạt thẻ tín dụng cho ông T1 bà H sử dụng với số tiền hạn mức là 200.000.000đồng (theo Thẻ tín dụng) vào ngày 09/5/2022. Ông T1 bà H đã nhận đủ số tiền vay và đã trả Ngân hàng một phần tiền vay của Hợp đồng tín dụng với số tiền gốc là 140.004.004 đồng, tiền lãi trong hạn là 322.269.869 đồng và lãi quá hạn là 414.588 đồng. Đối với Thẻ tín dụng ông T1 bà H sử dụng thẻ để thanh toán từ ngày 09/5/2022 đến ngày 06/01/2023 phát sinh số tiền gốc chưa thanh toán là 189.838.393 đồng (trong đó số tiền chi tiêu thanh toán từ Thẻ tín dụng chưa trả là 189.827.393 đồng và 11.000đồng phí tin nhắn). Việc trả nợ của Hợp đồng tín dụng được thực hiện vào ngày 30 hàng tháng và việc thanh toán Thẻ tín dụng được thực hiện vào ngày 20 hàng tháng, trong các hợp đồng nêu trên đều thỏa thuận về lãi trong hạn, lãi quá hạn, phí. Nhưng từ ngày 05/5/2023 đối với Hợp đồng tín dụng và từ ngày 22/5/2023 đối với Thẻ tín dụng ông T1 bà H vẫn chưa trả nợ gốc và tiền lãi của các hợp đồng tín dụng nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng đối với ông T1 bà H về việc trả nợ gốc, lãi trong hạn, lãi quá hạn, các loại phí theo thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng tính đến ngày 28/6/2024 với tổng số tiền 5.034.410.322 đồng, trong đó: Nợ của Hợp đồng tín dụng là 4.743.845.550 đồng gồm (nợ gốc 4.059.995.996 đồng, lãi trong hạn 664.114.185 đồng, lãi quá hạn 19.735.369 đồng). Nợ của T4 tín dụng là 290.564.772 đồng gồm (nợ gốc 189.838.393 đồng, lãi và phí là 100.726.379 đồng) là có căn cứ chấp nhận theo quy định tại Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự; Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng. Kể từ ngày 29 tháng 6 năm 2024 ông T1 bà H còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
[5] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm: Hợp đồng thế chấp bất động sản số 3540/22/TC-TT/XI.3 số công chứng 740/TCTS-NĐC.22, quyển số 01TP/CC-SCC/HĐGD ngày 07/04/2022 được ký kết giữa Ngân hàng và ông T1 bà H, thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với diện tích đất 703m² thuộc thửa đất số 147 tờ bản đồ số 10 thôn P, xã L, huyện A, thành phố Hải Phòng được đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật. Tại thời điểm ký kết hợp đồng thế chấp, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 899311 số vào sổ cấp GCN: CH 00051 do UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/05/2011 cấp cho ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị X, ngày 03/02/2021 đăng ký chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, ngày 04/4/2022 đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H.
[5.1] Tại thời điểm nhận thế chấp đối với thửa đất 147, trên đất có 01 nhà cấp 4, 02 nhà kính, tường bao, cổng, cây cối và theo cung cấp của Ngân hàng thì tại thời điểm thế chấp ông T1 bà H có cam kết bằng văn bản đây là tài sản thuộc sở hữu riêng của ông T1 bà H, không có tranh chấp với ai, khi nhận thế chấp tài sản ông V, bà X, ông T2 và bà T3 không ở trên đất. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/01/2024 của Tòa án cho thấy hiện tại ông Hoàng Văn T2 và bà Nguyễn Thị T3 đang quản lý sử dụng thửa đất số 147 với diện tích hiện trạng là 680,3m² và trên đất có 01 căn nhà cấp 4, tường bao, cổng, sân, cây cối, nền nhà và tường bao còn lại của hai gian nhà kính. Ông T2, bà T3 cho rằng tài sản trên đất hiện nay gồm nhà ở, cổng, tường bao và cây cối do ông bà xây dựng và trồng trọt, tài sản còn lại của anh V chị X trên đất là nền nhà và tường bao của hai căn nhà kính do chị X anh V làm và ông bà không đồng ý yêu cầu phát mại tài thế chấp của Ngân hàng.
[5.2] Căn cứ lời khai của các đương sự, tài liệu chứng cứ do nguyên đơn cung cấp và tài liệu chứng cứ do Tòa án thu thấp thì có căn cứ xác định tại thời điểm nhận thế thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 147 nêu trên Ngân hàng đã kiểm tra hiện trạng tài sản và định giá tài sản và khi nhận thế chấp trên đất đã có 01 căn nhà cấp 4, 02 căn nhà kính, sân cổng, tường bao, nhà vệ sinh, cây cối. Ngoài giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được đăng ký biến động sang tên cho ông T1 bà H vào ngày 04/4/2022 thì ông T1 bà H còn có Biên bản cam kết ngày 29/3/2022 tài sản thuộc sở hữu của ông T1 bà H, không bị tranh chấp với ai và khi Ngân hàng kiểm tra hiện trạng tài sản thì không có mặt của ông T2, bà T3, ông V bà X; mặt khác Ngân hàng còn cung cấp Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và Hợp đồng mua bán nhà đất giữa ông Lê Văn N và ông T1 bà H. Trong trường hợp này, Ngân hàng được xác định là bên thứ 3 ngay tình nên Ngân hàng không biết và không buộc phải biết tài sản trên đất có thuộc sở hữu của ông T1 bà H không và do ông T2, bà T3, ông V bà X đang quản lý sử dụng. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, Hợp đồng mua bán nhà đất thì ông T1 bà H có quyền sử dụng đã thế chấp tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của mình tại Ngân hàng nên Hợp đồng thế chấp đã ký giữa Ngân hàng và ông T1 bà H có hiệu lực pháp luật. Trong Hợp đồng thế chấp thỏa thuận việc xử lý tài sản bảo đảm khi đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ mà bên được cấp tín dụng hoặc bên bảo đảm không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ một phần hoặc toàn bô nghĩa vụ hoàn trả nợ. Do ông T1 bà H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo các hợp đồng tín dụng nêu trên nên Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án có thẩm quyền phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ theo quy định tại các điều 298, 299, 500, 501 và 502 Bộ luật Dân sự và các điều 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.
[5.3] Ông T2, bà T3, ông T1 bà H, ông V và bà X không có yêu cầu gì liên quan đến việc chuyển nhượng nhà đất tại thửa đất số 147 nêu trên, nếu có tranh chấp liên quan đến việc chuyển nhượng tài sản trên đất thì ông T2, bà T3, ông V, bà X và bị đơn có quyền khởi kiện bằng vụ án dân sự khác.
[5.4] Theo Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ ngày 29/01/2024, diện tích đất thế chấp tại thửa đất số 147 nêu trên hiện nay còn 680,30m², giảm so với diện tích đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Căn cứ vào lời khai của Ngân hàng, của ông T2, bà T3 và kết quả xác minh của Tòa án tại địa phương cho thấy thửa đất số 147 đã sử dụng đúng mốc giới và không có tranh chấp với các hộ hiền kề, vị trí thửa đất từ thời điểm nhận thế chấp đến thời điểm xem xét thẩm định tại chỗ không thay đổi. Ngân hàng yêu cầu phát mại tài sản thế chấp theo hiện trạng, do vậy, yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mại tài sản thế chấp theo hiện trạng là có căn cứ chấp nhận và diện tích hiện trạng của thửa đất số 147 nêu trên được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 1 theo sơ đồ kèm theo bản án này.
[6] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Toà án chấp nhận. Trả lại cho Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 299, 463, 466, 470, 500, 501, 502 của Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 14 Điều 4, các điều 90, 91, 95, 98 của Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 6, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 10 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần A, buộc: Ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H phải trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A theo Hợp đồng tín dụng từng lần số 3566/22/TD-TT/XI.3 ký ngày 29/03/2022, Hợp đồng sửa đổi bổ sung Hợp đồng tín dụng từng lần số 4355/22/PLTD-TT/XI.3 ký ngày 07/04/20, Giấy nhận nợ Giấy nhận nợ số 3566/22/TD-TT/XI.3-01 ngày 30/03/2022 và Giấy đề nghị kiêm hợp đồng phát hành, sử dụng thẻ tín dụng quốc tế A1 VISA ngày 19/04/2022 tính đến ngày 28/6/2024 với tổng số tiền là 5.034.410.322 đồng, trong đó: Số tiền nợ của Hợp đồng tín dụng là 4.743.845.550 đồng (gồm nợ gốc 4.059.995.996 đồng, lãi trong hạn 664.114.185 đồng và lãi quá hạn 19.735.369 đồng. Số tiền nợ của T4 tín dụng là 290.564.772 đồng gồm (nợ gốc 189.838.393 đồng, lãi và phí là 100.726.379 đồng).
Kể từ ngày 29 tháng 6 năm 2024 bên phải thi hành án còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
- Trường hợp ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng thì Ngân hàng có quyền đề nghị Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thu hồi nợ là toàn bộ là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 147 tờ bản đồ số 10 thôn P, xã Đ, huyện A, thành phố Hải Phòng (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 899311 số vào sổ cấp GCN: CH 00051 do UBND huyện A, thành phố Hải Phòng cấp ngày 16/05/2011 cấp cho ông Hoàng Văn V và bà Nguyễn Thị X, ngày 03/02/2021 đăng ký chuyển nhượng cho ông Lê Văn N, ngày 04/04/2022 đăng ký chuyển nhượng cho ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H) theo diện tích thửa đất đo thực tế là 680,30m² được giới hạn bởi các mốc 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 1 (Có sơ đồ kèm theo bản án này). Trường hợp phát mại tài sản trên nhưng chưa đủ để thu hồi nợ thì ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả hết nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A. Trường hợp phát mại tài sản để thu hồi nợ còn thừa thì trả lại cho bên thế chấp.
- Về án phí: Ông Nguyễn Như T1 và bà Mai Thị H phải chịu 113.034.000 đồng. Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần A số tiền 56.185.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện An Dương theo Biên lai số 0005242 ngày 03 tháng 11 năm 2023.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
- Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án Dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 11/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN AN DƯƠNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng An Bình + Trung Hiền
