Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST.

Ngày: 28 - 6 - 2024

V/v: “Ly hôn, nuôi con chung”.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh Phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đinh Văn Chí;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đức Nghị và bà Nguyễn Thị Hường.

- Thư ký phiên toà: Ông Đỗ Hải Long - Thư ký Toà án của Toà án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đình Núi - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14/6/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Đinh Thị T, sinh năm 2000 (có đơn xin xét xử vắng mặt);

Địa chỉ: khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị T: ông Lã Thành C – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh P (có mặt).

- Bị đơn: Anh Hà Văn C1, sinh năm 1992 (vắng mặt);

Địa chỉ: khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[1]. Theo đơn khởi kiện ngày 03/4/2024 và lời khai tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Đinh Thị T trình bày:

- Về hôn nhân: Chị với anh Hà Văn C1 tự nguyện kết hôn vào ngày 18/12/2018, có đăng ký tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc cho đến khoảng đầu năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn. Từ đó đến nay, hai người đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau nữa. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Chị T đã về nhà bố mẹ đẻ ở tại khu C, xã T, huyện T và xác định tình cảm vợ chồng không còn, quan hệ hôn nhân không thể hàn gắn được nữa nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh C1.

- Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh C1 không có con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung, cho vay và công sức đóng góp: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

[2]. Phía Bị đơn, anh Hà Văn C1:

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh C1 đều vắng mặt nên không có quan điểm.

[3]. Quan điểm của đại diện gia đình anh Hà Văn C1: Tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/4/2024, ông Hà Văn C2 (là bố đẻ anh C1) cho biết, anh C1 và chị T kết hôn năm 2018. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến khoảng đầu năm 2024 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Từ năm 2024, chị T đã chính thức bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở. Ông đã nhận giấy báo của Tòa án thay cho anh C1 và giao lại cho anh C1; anh C1 biết việc Tòa án đang giải quyết việc chị T làm đơn xin ly hôn anh C1, nhưng anh C1 nói rằng do công việc bận nên không đến Tòa án làm việc được.

[4]. Quan điểm của đại diện UBND xã T: Tại Biên bản xác minh ngày 25/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn với đại diện UBND xã T, địa phương cung cấp như sau: Anh Hà Văn C1 là chồng của chị Đinh Thị T, có đăng ký nhân khẩu thường trú tại khu C, xã T. Địa phương đã nhận được Thông báo, Giấy báo của Tòa án và giao cho gia đình anh C1. Về tình trạng hôn nhân: Anh C1 và chị T chung sống hòa thuận, hạnh phúc cho đến đầu năm 2024 thì vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm sống, cả hai bên đều không chủ động và có biện pháp hàn gắn hạnh phúc. Từ khi phát sinh mâu thuẫn đến nay chị T đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại khu C, xã T, vợ chồng sống ly thân nhau. Nay chị T có đơn khởi kiện xin được ly hôn anh C1, UBND xã T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.

[5]. Quan điểm của Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho Nguyên đơn: Nhất trí theo quan điểm của chị T trong quá trình giải quyết vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị T, cho chị T được ly hôn anh C1.

[6]. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, Nguyên đơn đã chấp hành là đúng quy định của pháp luật; Bị đơn chấp hành chưa đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Chị T và anh C1 kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung của vợ chồng không hòa thuận, hạnh phúc. Mâu thuẫn của vợ chồng không thể khắc phục, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu của chị T; cho chị T được ly hôn anh C1.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh C1 không có con chung.

Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét trong vụ án này.

Về án phí: chị T là người dân tộc thiểu số cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí sơ thẩm cho chị T theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về trình tự, thủ tục tố tụng: Chị Đinh Thị T có đơn khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ giải quyết cho chị được ly hôn anh Hà Văn C1, căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C1, tuy nhiên anh C1 cố ý vắng mặt. Vì vậy, Tòa án xác định đây là vụ án không thể tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 1 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự và quyết định đưa vụ án ra xét xử là phù hợp.

Tại phiên tòa ngày hôm nay, chị T có đơn xin xét xử vắng mặt; anh C1 vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh C1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn là đúng quy định của pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án.

2.1. Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh C1 trước khi kết hôn có thời gian tự nguyện tìm hiểu. Ngày 18/12/2018, hai bên đăng ký kết hôn tại UBND xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ, đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.

Quá trình chung sống, chị T cho rằng từ đầu năm 2024 vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, trong cuộc sống vợ chồng không có sự hòa hợp với nhau. Chị và anh C1 đã chính thức ly thân từ đầu năm 2024, không ai còn quan tâm đến nhau nữa. Xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh C1 nên chị xin ly hôn để giải phóng cho nhau. Phía anh C1, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và Giấy báo nhưng cố tình trốn tránh không đến Tòa án để trình bày quan điểm.

Để thu thập chứng cứ về tình trạng hôn nhân của vợ chồng chị T và anh C1 Tòa án đã tiến hành xác minh tại UBND xã T thấy rằng: Lời trình bày của chị T về tình trạng hôn nhân giữa chị và anh C1 là hoàn toàn đúng. Đại diện gia đình anh C1 là ông Hà Văn C2 (là bố đẻ anh C1) cũng xác định anh C1 và chị T chung sống không hòa thuận hạnh phúc, từ năm 2024, chị T đã chính thức bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, hai bên không còn quan tâm đến nhau nữa.

Xét thấy, tình trạng hôn nhân giữa chị chị T và anh C1 đã đến mức trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không còn tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được; hai bên không hợp tác hòa giải và không có biện pháp khắc phục tình trạng hôn nhân. Vì vậy, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị T đối với anh C1 là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

2.2. Về con chung: Quá trình chung sống, chị T và anh C1 không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.

2.3. Về tài sản chung, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Nguyên đơn, không yêu cầu Tòa án giải quyết, Bị đơn chưa có yêu cầu. Do vậy, Hội đồng xét xử chỉ xem xét giải quyết vụ án trong phạm vi khởi kiện. Khi chị T, anh C1 có yêu cầu thì anh, chị có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ, việc khác theo quy định pháp luật.

2.4. Về án phí: Chị T là Nguyên đơn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, tại đơn đề nghị ngày 05/4/2024 chị T xin được miễn nộp tiền án phí vì là Người dân tộc thiểu số (dân tộc Mường), hiện đang sinh sống tại khu vực có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn. Xét thấy, theo Quyết định số 612/QĐ-UBDT ngày 16/9/2021 của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban D thì khu C, xã T, huyện T, tỉnh Phú Thọ là khu có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn; chị T là người dân tộc thiểu số. Nên Hội đồng xét xử miễn toàn bộ tiền án phí sơ thẩm cho chị T là phù hợp với quy định tại điểm đ Điều 12, Điều 14, Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2.5. Quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

2.6. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 57 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của chị Đinh Thị T. Cho chị Đinh Thị T được ly hôn anh Hà Văn C1.
  2. Về con chung: Chị Đinh Thị T và anh Hà Văn C1 không có con chung nên không xem xét.
  3. Về tài sản chung, tài sản riêng, công nợ, công sức đóng góp của vợ chồng: Không xem xét, giải quyết trong vụ án này.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí ly hôn sơ thẩm cho chị Đinh Thị T.
  5. Về quyền kháng cáo: Chị T và anh C1 có quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

6. Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì Người được thi hành án dân sự, Người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thi hành theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tân Sơn;
  • - THADS huyện Tân Sơn;
  • - UBND xã Thu Ngạc;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Đinh Văn Chí

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 28/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ về ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh T khởi kiện ly hôn với chị C
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger