Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SA THẦY

TỈNH KON TUM

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày: 28-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Trường Thọ.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tiến Thành và bà Lê Thị Hạnh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy tham gia phiên tòa:

Ông Phan Hà Thi - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28-5-2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 06/2024/HS-ST ngày 16-4-2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2024/QĐXXST-HS ngày 14-5-2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn T, sinh ngày ....., tại tỉnh Tiền Giang; trú tại: Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V và bà Nguyễn T; tiền án: Có 01 tiền án (ngày 04-5-2022, Nguyễn T bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”), tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 13-12-2016, bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy, tỉnh Kon Tum xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02-11-2023 đến nay. (Có mặt).

- Người chứng kiến:

  • + Anh Lê V1, sinh năm ....; địa chỉ: Thôn X, thị trấn S, huyện Htỉnh Kon Tum. (Vắng mặt);
  • + Chị Y V1, sinh năm ....; địa chỉ: Làng L, xã Y, huyện S, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 02-11-2023, Nguyễn T điều khiển xe mô tô từ nhà mình tại thôn Sơn An, xã Sa Sơn, huyện Sa Thầy đến địa bàn thành phố Kon Tum, tỉnh Kon Tum để mua quần áo. Khi đi ngang qua khu vực bến xe tỉnh Kon Tum, T gặp một người tên Bi (không rõ nhân thân, lai lịch) và mua của Bi 01 gói ma túy với số tiền 1.000.000 đồng rồi điều khiển xe về lại nhà của mình. Tại đây, sau khi lấy ra một phần ra sử dụng, số ma túy còn lại được T chia thành 11 phần, cho vào các gói nilon, trong đó: T bỏ 10 gói vào bao thuốc lá nhãn hiệu Golden Eagle rồi cất giấu ở sân sau căn nhà, 01 gói còn lại được T bỏ vào bao thuốc lá Golden Eagle và mang theo bên mình. Sau đó, T điều khiển xe mô tô đến địa bàn xã Sa T và xã Ya Xiêr, huyện Sa Thầy chơi. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, khi T vừa về đến nhà thì bị Công an huyện Sa Thầy tiến hành kiểm tra, phát 01 gói nilon chứa chất nghi là ma túy đang được để trên xe của T.

Tiến hành khám xét khẩn cấp, Công an huyện Sa Thầy tiếp tục phát hiện 10 gói nilon bên trong có chứa chất nghi là ma túy được T bỏ trong gói thuốc lá Golden Eagle cất giấu tại sân phía sau nhà T.

Tại Kết luận giám định số: 308/KL-KTHS ngày 08-11-2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Kon Tum xác định: Các chất tinh thể thu giữ trong quá trình kiểm tra, khám xét đối với Nguyễn T là ma tuý, loại Methamphetamine, có tổng khối lượng là 1,749 gam.

Bản cáo trạng số: 07/CT-VKSST ngày 16-4-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy truy tố Nguyễn T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố khẳng định việc truy tố đối với Nguyễn T là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày Nguyễn T bị bắt tạm giữ, tạm giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

  3. Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước chiếc xe mô tô; tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số ma túy và các đồ vật khác đã thu giữ trong vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sa Thầy và Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy đã thực hiện đầy đủ, đúng trình tự, thẩm quyền các thủ tục tiến hành tố tụng.

[2] Tại phiên tòa, người chứng kiến - anh Lê V1 và chị Y V1 vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Xét việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn T khai nhận hành vi của mình đúng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy đã đề cập. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 19 giờ 30 phút ngày 02-11-2023, tại Thôn S, xã S, huyện S, tỉnh Kon Tum, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, Công an huyện Sa Thầy phát hiện Nguyễn T có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra, khám xét và thu giữ của T tổng khối lượng 1,749 gam ma túy, loại Methamphetamine do T cất giấu trong xe mô tô và tại nơi ở của T.

[4] Theo lời khai nhận của bị cáo, toàn bộ số ma túy nêu trên là do T mua của người khác để sử dụng cho nhu cầu của bản thân. Tại thời điểm thực hiện việc tàng trữ trái phép số ma túy này, Nguyễn T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Do vậy, hành vi của T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Sa Thầy truy tố bị cáo theo điều luật vừa nêu, là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[5] Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, thấy rằng: Hành vi của Nguyễn T là rất nguy hiểm cho xã hội. Ma túy là chất độc dược có khả năng gây nghiện cao, làm ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tính mạng của người sử dụng. Tội phạm về ma túy là một trong những tội phạm có khả năng làm nảy sinh ra nhiều loại tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bởi vậy, những hành vi như mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép loại chất này bị pháp luật nghiêm cấm. Bị cáo biết rõ những tác hại do ma túy gây ra, cũng như việc tàng trữ trái phép chất ma túy là bị nghiêm cấm. Nhưng, với mong muốn được sử dụng chất ma túy để thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bị cáo đã cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi phạm tội thể hiện ý thức liều lĩnh, coi thường pháp luật của bị cáo; gây ảnh hưởng xấu đến chính sách quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, làm mất trật tự trị an tại địa phương.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngày 04-5-2022, Nguyễn T bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy xử phạt 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đến ngày phạm tội trong vụ án này, bị cáo chưa được xóa án tích, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, Nguyễn T là người có nhân thân xấu (Ngày 13-12-2016, T bị Tòa án nhân dân huyện Sa Thầy xử phạt 30 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”).

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, Nguyễn T luôn thành khẩn khai báo – đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự mà bị cáo được hưởng.

[8] Với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm, các tình tiết tăng nặng - giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cùng nhân thân của bị cáo Nguyễn T như đã phân tích, đánh giá ở trên, thấy rằng: Cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục người phạm tội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, phòng ngừa chung trong tình hình các loại tội phạm liên quan đến chất ma túy trên địa bàn huyện Sa Thầy đang có chiều hướng gia tăng như hiện nay.

[9] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo Nguyễn T hiện nay không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[10] Nguồn gốc số ma túy trong vụ án theo lời khai của Nguyễn T, là do một người có tên Bi bán cho bị cáo. Tuy nhiên, đến nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của Bi, nên chưa đủ cơ sở xem xét trách nhiệm đối với đối tượng này.

[11] Về vật chứng của vụ án: Cùng với số ma túy, Cơ quan điều tra còn thu giữ: 01 cây kéo bằng kim loại. 01 đầu khò, 01 T ga mini. 12 điếu thuốc lá có đầu lọc. 01 xe mô tô không gắn biển kiểm soát, nhãn hiệu Suzuki Raider, đã qua sử dụng. 01 túi ni lông màu đen, bên trong có 21 ống nhựa và 17 ống thuỷ tinh hình trụ. 20 gói nilon được hàn kín 03 cạnh, 01 cạnh hở để trong 01 hộp nhựa hình lập phương màu trắng mờ.

[12] Xét thấy: Số ma túy là vật cấm lưu hành, nên tịch thu, tiêu hủy. Chiếc xe mô tô do bị cáo sử dụng liên hệ với đối tượng tên Bi để mua ma túy, sau đó chiếc xe này còn được sử dụng để tàng trữ trái phép ma túy, nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước. Các đồ vật còn lại, theo lời khai của bị cáo là vật dụng liên quan đến vụ án và không có giá trị sử dụng, nên tịch thu, tiêu hủy.

[13] Về án phí: Bị cáo Nguyễn T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự;

    - Xử phạt bị cáo Nguyễn T 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam (Ngày 02-11-2023).

    - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn T.

  3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • - Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước: 01 mô tô không gắn biển kiểm soát, số khung: RLSDL211ANJV118630, số máy: CGA 1518026, nhãn hiệu SUZUKI RAIDER, màu đỏ đen, đã qua sử dụng, không kiểm tra tình trạng bên trong.
    • - Tịch thu tiêu hủy:
      • + 01 hộp giấy (chứa mẫu vật do Phòng Kỹ thuật hình sự hoàn trả sau khi giám định, trong đó có 04 túi nilon chứa chất ma túy, loại Methamphetamine, ký hiệu: M1, M2, M3, M4, có khối lượng đã trừ bì lần lượt là: 1,058gam; không xác định được khối lượng; 0,034gam; 0,587gam) được dán kín xung quanh bằng giấy trắng và băng keo trong suốt, bên ngoài hộp giấy có nội dung “CÔNG AN TỈNH KON TUM - PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ SỐ: 308/KL-KTHS”, tại các mép dán có 04 giấy niêm phong, trên mỗi giấy niêm phong có các chữ ký ghi họ tên của người tham gia niêm phong và các hình dấu tròn có nội dung “*PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ CÔNG AN TỈNH KON TUM";
      • + 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng bạc;
      • + 01 đầu khò, phần thân bằng nhựa màu xanh, phần đầu bằng kim loại, phía sau có nút bật điều chỉnh màu đỏ và 01 T ga mini màu trắng đỏ, mặt T ga có dòng chữ “MAXVINA”;
      • + 12 điếu thuốc có đầu lọc màu vàng cam, chưa sử dụng;
      • + 01 túi ni lông màu đen, bên trong có: 21 ống nhựa hở hai đầu {Trong đó có 05 ống nhựa màu trắng cam, 02 ống nhựa màu xanh nước biển, 02 ống nhựa màu trắng xanh lá cây, 04 ông nhựa màu trắng vàng, 02 ống nhựa màu trắng đỏ, 03 ống nhựa màu trắng tím, 03 ống nhựa màu trắng hồng (có 01 ống bị cắt một phần)}. 17 ống thuỷ tinh hình trụ, hở hai đầu {Trong đó 14 ống màu trong suốt, 02 ống màu xanh lá cây, 01 ống màu vàng} được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2.2107574, mặt trước có các chữ ký của Nguyễn Tuấn Anh, Lê Mai Hoàng Nam, Lại Thế Đông, Nguyễn T, Lê V1, Y Xu, Nguyễn Quang Công và 01 dấu tròn màu đỏ của Công an xã Sa Sơn;
      • + 20 gói ni lông được hàn kín 03 cạnh, 01 cạnh hở để trong 01 hộp nhựa hình lập phương màu trắng mờ, được niêm phong trong túi niêm phong mã số NS2.2107570, mặt trước có các chữ ký của Nguyễn Tuấn Anh, Lê Mai Hoàng Nam, Lại Thế Đông, Nguyễn T, Lê V1, Y Xu, Nguyễn Quang Công và 01 dấu tròn màu đỏ của Công an xã Sa Sơn.

      Các vật chứng, đồ vật nêu trên như được ghi tại Biên bản giao nhận vật chứng ngày 02-5-2024, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Sa Thầy và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Sa Thầy.

  4. Về án phí: Áp dụng khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;
  5. - Buộc bị cáo Nguyễn T phải nộp là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  6. Về kháng cáo: Áp dụng các Điều 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự;
  7. - Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (Ngày 28-5-2024), bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND t. Kon Tum;
  • - VKSND t. Kon Tum;
  • - VKSND h. Sa Thầy;
  • - Công an h. Sa Thầy;
  • - Chi cục THADS h. Sa Thầy;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phan Trường Thọ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SA THẦY, TỈNH KON TUM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn T "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger