TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 28 – 5 - 2024 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tuyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Tấn Lãm
- Bà Nguyễn Thị Mùa
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thuý Hoa – Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Ông Đặng Hữu Phương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2024, tại Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 107/2023/TLST- HNGĐ ngày 04 tháng 10 năm 2023 về việc “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 28/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 20/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đào Thị H, sinh năm 1991; nơi cư trú: Thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (có đơn xin xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Voòng Thống S, sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 25/7/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đào Thị H trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Tôi với ông V Thống Sầu tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2007, đến năm 2013 mới đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 quyển số 01 ngày 17/7/2013 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp. Trong quá trình chung sống thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng sau đó thì phát sinh mâu thuẫn do bất hòa về tình cảm, kinh tế, tiền bạc nợ nần. Đến năm 2018 thì vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay.
Do mối quan hệ vợ chồng giữa tôi với ông V Thống Sầu hiện nay đã mâu thuẫn trầm trọng, không đạt được mục đích xây dựng gia đình hạnh phúc, không thể tiếp tục duy trì mối quan hệ vợ chồng được nữa. Vì vậy tôi nộp đơn khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết cho tôi được ly hôn với ông Voòng Thống S
- Về con chung: Trong quá trình chung sống, giữa tôi với ông P có 02 người con chung là cháu Voòng Nhật L, sinh ngày 30/7/2008 và cháu Voòng Nhật Đ, sinh ngày 13/9/2013. Do từ năm 2018 đến nay, chúng tôi sống ly thân, con cái đều do tôi lo lắng, chăm sóc. Vì vậy, khi Toà án giải quyết ly hôn với ông S, tôi yêu cầu cho tôi được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng nuôi con không yêu cầu giải quyết.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Bị đơn ông Voòng Thống S:
Trong quá trình thụ lý, thu thập chứng cứ để giải quyết vụ án, ông Voòng Thống S đều vắng mặt và không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng.
Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước đã tiến hành xác minh nơi cư trú tại địa phương của ông Voòng Thống S, được biết ông S có đăng ký cư trú tại thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước nhưng tại thời điểm xác minh ông S đã bỏ đi khỏi địa phương, đi đâu làm gì địa phương không có thông tin do ông S không thông báo với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương.
* Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Gia Mập như sau:
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- Về thụ lý, phân công thẩm phán; xác định tư cách tham gia tố tụng; xác minh thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ; thủ tục công khai, tiếp cận chứng cứ và hòa giải đã thực hiện đúng theo quy định tại các điều 28, 35, 39, 68, 93, 97, 195, 196, 197, 205, 208, 209 của BLTTDS.
- Về thời hạn chuẩn bị xét xử: Thực hiện đúng theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Đào Thị H, cho bà H được ly hôn với ông Voòng Thống Sầu . Giao 02 người con chung cho bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi.
Các vấn đề khác đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án đúng theo quy định của pháp luật để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật:
Xét thấy, đây là vụ kiện hôn nhân và gia đình về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, do nguyên đơn bà Đào Thị H thực hiện quyền khởi kiện; bị đơn ông Voòng Thống S có địa chỉ cư trú tại thôn F, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt:
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Voòng Thống S đã được Toà án thực hiện việc tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Giấy triệu tập để trình bày ý kiến, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai. Căn cứ vào Điều 179, điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự 2015, Tòa án nhân dân huyện Bù Gia Mập tiến hành xét xử vắng mặt ông S.
Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu của người khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo mặc dù đã được Tòa án tống đạt, niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào tài liệu chứng cứ mà đương sự đã giao nộp và Tòa án thu thập để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung tranh chấp:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà H, ông S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 85 quyển số 01 ngày 17/7/2013 do Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân gia đình, được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Sau khi kết hôn bà H và ông S chung sống hòa thuận hạnh phúc một thời gian, sau đó vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, thường xảy ra bất hoà, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Đến năm 2018 thì hai vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Hội đồng xét xử thấy rằng có đủ căn cứ khẳng định bà H và ông S đã không còn chung sống với nhau một thời gian dài, giữa hai vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm đến nhau, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà H và ông S đã đến mức trầm trọng, không thể khắc phục được, đời sống chung thực tế đã không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xử cho bà H được ly hôn ông S là phù hợp Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Về con chung: Quá trình chung sống, giữa bà H và ông S có 02 người con chung là cháu Voòng Nhật L, sinh ngày 30/7/2008 và cháu Voòng Nhật Đ, sinh ngày 13/9/2013. Bà H có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi.
Xét thấy, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về thể chất và tinh thần. Thực tế từ năm 2018 ông S và bà H ly thân cho đến nay, thì con chung do bà H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng từ nhỏ cho đến nay. Vì vậy, cần giao cháu L và cháu Đ cho bà H được trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng là phù hợp. Yêu cầu của bà H là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm các đương sự phải chịu theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Quan điểm đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227Điều 228; Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ khoản 1 Điều 9; Điều 51; khoản 1 Điều 53; khoản 1 Điều 56; các điều 57, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị H.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đào Thị H được ly hôn với ông Voòng Thống Sầu .
Quan hệ hôn nhân giữa bà Đào Thị H và ông V Thống Sầu chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật
- Về con chung: Giao người con chung Voòng Nhật Long, sinh ngày 30/7/2008 và cháu Voòng Nhật Đ, sinh ngày 13/9/2013 cho bà Đào Thị H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn cho đến khi con chung trưởng thành đủ 18 tuổi;
- Về cấp dưỡng nuôi con: Không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ theo quy định tại Điều 82 của Luật này; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không giải quyết do các đương sự không có yêu cầu
- Về án phí:
Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) bà Đào Thị H phải chịu, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà H đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006605 ngày 04 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Gia Mập, tỉnh Bình Phước.
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Đào Thị H được ly hôn với ông Voòng Thống Sầu .
- Quyền kháng cáo:
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Tuyết |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ GIA MẬP, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
