|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN TỈNH THANH HÓA Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày: 27/9/2024 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trịnh Thị Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Đình Túy
Bà Trịnh Thị Bình
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Lê Thị Hoa - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện VKSND huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân A - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 34/2024/TLST - HNGĐ ngày 29 tháng 5 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2024/QĐXX- ST ngày 29/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10/9/2024 giữa các đương sự :
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm: 1984 (vắng mặt);
Nơi ở hiện nay: Đ, xóm X, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định
- Bị đơn: Anh Lê Viết O, sinh năm: 1977 (vắng mặt);
Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện Đ, Thanh Hóa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 21/5/2024 và bản tự khai ngày 04/6/2024 chị Nguyễn Thị N trình bày:
Chị N và anh Lê Viết O tự nguyện kết hôn, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ ngày 27/01/2010. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra cãi vã. Từ đầu năm 2024 đến nay chị N về nhà mẹ đẻ ở cùng hai con là cháu Lê Thị Thanh X và cháu Lê Thị Thảo V. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị N xác định tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không có hạnh phúc, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh O.
- Về con chung : Chị N anh O có 04 con chung Cháu Lê Viết H, sinh ngày 02/7/2010; cháu Lê Viết H1, sinh ngày 06/9/2012; cháu Lê Thị Thanh X, sinh ngày 22/5/2018 và cháu Lê Thị Thảo V, sinh ngày 12/9/2020. Chị N có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu X và cháu V; giao cháu H và cháu H1 cho anh O trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Hai bên không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản và công nợ: Chị N không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản ý kiến của cháu Lê Viết H, sinh ngày 02/7/2010, cháu H trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Tại bản ý kiến của cháu Lê Viết H1, sinh ngày 06/9/2012, cháu H1 trình bày nguyện vọng nếu bố mẹ cháu ly hôn, cháu có nguyện vọng được ở với bố.
Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định của pháp luật đối với anh Lê Viết O, anh O đã nhận được thông báo thụ lý vụ án, anh O không có ý kiến gì. Anh O không chấp hành tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, Triệu tập làm việc nhưng anh O vắng mặt không có lý do nên Tòa án phải tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh tình trạng hôn nhân đối với anh O tại gia đình và địa phương.
Tại Biên bản làm việc ngày 19/8/2024 tại nhà anh Lê Viết O: Bà Lê Thị B – mẹ đẻ của anh O cho biết: Vợ chồng anh O và chị N đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân cụ thể bà B không biết, chỉ biết vợ chồng đánh nhau. Đầu năm 2024, vợ chồng sống ly thân, chị N bỏ về nhà mẹ đẻ ở, từ đó đến nay không ai quan tâm đến ai. Anh O hiện sinh sống tại địa phương. Anh O, chị N có 04 con chung cháu Lê Viết H, sinh ngày 02/7/2010; cháu Lê Viết H1, sinh ngày 06/9/2012; cháu Lê Thị Thanh X, sinh ngày 22/5/2018 và cháu Lê Thị Thảo V, sinh ngày 12/9/2020. Hiện nay cháu H và cháu H1 đang sống cùng anh O; cháu X và cháu V sống cùng chị N. Về tài sản và công nợ anh chị có những tài sản gì và nợ ai thì bà không nắm được.
Theo báo cáo của ông Lê Văn T trưởng thôn Trường X1 cho biết anh Lê Viết O và chị Nguyễn Thị N có đăng ký kết hôn tại UBND xã Đ, huyện Đ. Hiện nay anh O đang sinh sống tại địa phương, anh O đi làm sáng đi tối mới về. Nguyên nhân mâu thuẫn giữa vợ chồng anh O thì địa phương không nắm được do anh O, chị N không báo cáo. Anh, chị có 04 con chung cháu Lê Viết H, sinh ngày 02/7/2010; cháu Lê Viết H1, sinh ngày 06/9/2012; cháu Lê Thị Thanh X, sinh ngày 22/5/2018 và cháu Lê Thị Thảo V, sinh ngày 12/9/2020. Hiện nay cháu H và cháu H1 đang sống cùng anh O; cháu X và cháu V sống cùng chị N. Về tài sản và công nợ anh chị có những tài sản gì và nợ ai thì ông không nắm được.
Chị N có đơn xin xét xử vắng mặt, anh O vắng mặt không có lý do.
Ý kiến của kiểm sát viên: Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án Triệu tập hợp lệ nhiều lần đến Tòa án để thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng anh O vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án là vi phạm quy định tại các Điều 70 Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn anh O vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228 BLTTDS để tiếp tục giải quyết vụ án theo thủ tục chung là đúng quy định. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56 Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình để chấp nhận yêu cầu của chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Viết O.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, Điều 81, 82 Điều 83 Luật hôn nhân gia đình. Khoản 4 Điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227 ; khoản 1,3 Điều 228; Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a, khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
- Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Viết O.
- Về con chung: Anh O chị N có 04 con chung, cháu Lê Viết H, sinh ngày 02/7/2010 và cháu Lê Viết H1, sinh ngày 06/9/2012 đang sống cùng anh O. Giao cháu H và cháu H1 cho anh O tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu X và cháu V cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh O chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc con chung là phù hợp.
- Về tài sản, nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết. Vì vậy không xem xét.
- Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị N có đơn đề nghị Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa giải quyết việc hôn nhân của chị và anh Lê Viết O, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Chị N có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt. Anh O đã được Triệu tập hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị N và anh Lê Viết O kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 27/01/2010 tại UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa và được UBND xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa cấp giấy chứng nhận kết hôn. Vì vậy hôn nhân giữa chị N và anh O là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành giao thông báo về việc thụ lý vụ án cho anh O, tuy nhiên sau khi nhận Thông báo thụ lý vụ án của Tòa án, anh O không chấp hành các quy định của pháp luật tố tụng dân sự, không có ý kiến bằng văn bản gửi cho Tòa án và cũng không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải nên Tòa án không tiến hành phiên hòa giải được. Như vậy anh O đã làm mất đi cơ hội đoàn tụ của vợ chồng. Việc chị N trình bày nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng và thực trạng hôn nhân phù hợp với xác minh tình trạng hôn nhân chị N và anh O tại địa phương. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, nên áp dụng Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho chị N được ly hôn anh O là phù hợp.
[3] Về con chung: Anh O chị N có 04 con chung. Cháu Lê Viết H, sinh ngày 02/7/2010 và cháu Lê Viết H1, sinh ngày 06/9/2012. Chị N có nguyện vọng xin được nuôi dưỡng cháu X và cháu V, giao cháu H và cháu H1 cho anh O trực tiếp nuôi dưỡng và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy anh O không thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết hôn nhân, cũng như trách nhiệm của mình đối với con chung. Nhưng từ trước đến nay cháu H và cháu H1 ở với anh O, cháu H và cháu H1 cũng có nguyện vọng được ở với anh O, để đảm bảo cho các cháu phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần và học tập ổn định. Nên chấp nhận yêu cầu của chị N, nên giao cháu X và cháu V cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu H và cháu H1 cho anh O trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N và anh O không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản, nợ: Các đương sự không yêu cầu giải quyết. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị N phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng: Khoản 1 Điều 51, Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình. Khoản1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 ,3 Điều 228; khoản 4 Điều 147; Điều 271; khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự. Điểm a, khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội.
Xử:
- - Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Lê Viết O.
- - Về con chung: Giao cháu Lê Thị Thanh X, sinh này 22/5/2018 và cháu Lê Thị Thảo V, sinh ngày 12/9/2020 cho chị N tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Viết H, sinh ngày 02/7/2010 và cháu Lê Viết H1, sinh ngày 06/9/2012 cho anh O trực tiếp nuôi dưỡng. Chị N và anh O không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Anh O chị N có quyền và nghĩa vụ đi lại chăm sóc con chung là phù hợp.
- - Về tài sản, công nợ : Các đương sự không yêu cầu giải quyết.
- - Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000đ án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị đã nộp là 300.000đ theo biên lai thu tiền ký hiệu: BLTU/23 số 0001984 ngày 29/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Chị N đã nộp đủ án phí DSST.
- - Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trịnh Thị Hà |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
