|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH TỈNH HOÀ BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2024/DS-ST
Ngày: 24/7/2024
V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Duy Tuấn.
Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Lan và bà Ngô Thị Như Hoa
- Thư ký toà án ghi biên bản: Bà Nguyễn Thanh Uyên – Thư ký viên Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hòa Bình tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vân – Kiểm sát viên.
Ngày 24/7/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Hoà Bình, tỉnh Hòa Bình mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 95/2023/TLST - DS ngày 02 tháng 8 năm 2023, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 15/2024/QĐXX- DS ngày 07 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2024/QSSDT-DS ngày 24/6/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đ (B1)
Địa chỉ: T, A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phan Đức T – Chủ tịch HĐQT
Đơn vị được ủy quyền: Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh H5; Ông Lương Quang M là người đứng đầu Chi nhánh theo Quyết định số 804/QĐ-BIDV ngày 22/8/2019 của Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Đ về việc ủy quyền tham gia tố tụng.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lương Quang M: Ông Nguyễn Thanh T1 – Giám đốc phòng G (Theo Quyết định ủy quyền số 963/QĐ-BIDV ngày 25/10/2021)
- Bị đơn: Ông Quách Công H, sinh năm 1983
Nơi ĐKHKTT: Tổ 18 (Tổ 23 cũ), phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
- Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Hoàng Đình H1, sinh năm 1963
Địa chỉ: Tổ A (Tổ B cũ), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
+ Vợ chồng chị Lê Thị H2, sinh năm 1985 và anh Lê Anh H3, sinh năm 1984
Cùng trú tại: Tổ A (Tổ 23 cũ), phường T, thành phố H, tỉnh Hòa Bình.
+ Vợ chồng ông Lê Đồng K, sinh năm 1960 và bà Bùi Thị L, sinh năm 1968; Cùng trú tại: Tổ E, phường P TP H, tỉnh Hòa Bình.
1
(Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông T1 có mặt; Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do; Những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai trong quá trình tố tụng cũng như tại phiên tòa, đại diện theo ủy quyền nguyên đơn Ngân hàng (B1) - ông Nguyễn Thanh T1 trình bày:
Ngày 19/12/2016, Ngân hàng TMCP Đ và bên vay là ông Quách Công H đã kí kết Hợp đồng tín dụng số 01/2016/9270931/HĐTD ngày 19/12/2016, số tiền vay là 800.000.000đ (T2 trăm triệu đồng), thời hạn vay 120 tháng, lãi suất 9%/năm áp dụng cho 12 tháng đầu, lãi suất các kỳ sau thả nổi theo quy định của B1 trong từng thời kỳ và được điểu chỉnh tối đa 12 tháng/ lần theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Mục đích vay là xây nhà. Để đảm bảo cho khoản vay ông H có thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/9270931/HĐBĐ ngày 08/12/2016 và văn bản sửa đổi bổ sung hợp đồng thế chấp ngày 08/12/2017 là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 510987 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp ngày 19/9/2016, số vào sổ CS 02395, thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m²; Nhà xây cấp 4, 01 tầng tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Ngày 30/11/2018, Ngân hàng TMCP Đ và bên vay là ông Quách Công H kí kết Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9270931/HĐTD ngày 30/11/2018, số tiền vay là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng). Thời hạn vay là 11 tháng, lãi suất 9,5%/năm, lãi suất quá hạn đối với nợ gốc quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Mục đích kinh doanh karaoke, café, nước giải khát...; Thời hạn vay: 11 tháng.
Trong quá trình thực hiện Hợp đồng tín dụng nêu trên, phía ông H đã thực hiện một phần nghĩa vụ thanh toán khoản vay. Đến nay ông Quách Công H đã thanh toán cho Ngân hàng Hợp đồng tín dụng số 01/2016/9270931/HĐTD ngày 19/12/2016, số tiền vay là 800.000.000 đồng trả được tiền gốc là 180.200.000 đồng còn lại nợ gốc là 619.800.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9270931/HĐTD ngày 30/11/2018, số tiền vay là 600.000.000 đồng trả được tiền gốc là 30.000.000 đồng còn lại nợ gốc là 570.000.000 đồng. Từ năm 2019 đến nay ông H không thanh toán cho Ngân hàng một khoản tiền gốc và lãi nào. Tính đến ngày 24/7/2024 ông Quách Công H còn nợ Ngân hàng cụ thể cả gốc và lãi như sau:
Hợp đồng tín dụng số 01/2016/9270931/HĐTD ngày 19/12/2016, số tiền vay còn nợ gốc là 619.800.000 đồng; Tiền lãi trong hạn 380.561.436 đồng; Lãi phạt quá hạn là 62.515.382 đồng. Tổng cộng là 1.062.876.818 đồng.
Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9270931/HĐTD ngày 30/11/2018, số tiền vay còn nợ gố là 570.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn 284.934.931 đồng; Lãi phạt quá hạn là 129.740.012 đồng. Tổng cộng là 984.674.943 đồng.
2
Tổng cộng cả hai hợp đồng ông Quách Công H phải thanh toán cho ngân hàng là: Tiền nợ gốc 1.189.800.000 đồng; Tiền lãi 665.496.367 đồng; T3 lãi phạt quá hạn là 192.255.394 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi của hai hợp đồng là 2.047.551.761 đồng.
Nay phía nguyên đơn đề nghị ông Quách Công H thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên. Đồng thời kể từ ngày sau khi Tòa xét xử vụ án, Ngân hàng đề nghị ông H phải tiếp tục chịu lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc.
Trường hợp ông Quách Công H không có khả năng chi trả phía Ngân hàng yêu cầu tiến hành phát mại tài sản đảm bảo để thi hành án thu hồi nợ, tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 510987 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp ngày 19/9/2016, số vào sổ CS 02395, thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m²; Nhà xây cấp 4, 01 tầng tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Về án phí, do bị đơn là bên vi phạm nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng, nên ngân hàng đề nghị bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.
* Bị đơn: Ông Quách Công H từ khi thụ lý đến nay Toà án đã làm các thủ tục thông báo tống đạt hợp lệ nhưng anh Quách Công H vẫn không đến toà để giải quyết vụ việc theo quy định của pháp luật.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, tại bản tự khai ông Hoàng Đình H1 trình bày:
Gia đình ông H1 quản lý sử dụng thửa đất đang tranh chấp là thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m² tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình từ năm 2009 đến nay. Nguồn gốc thửa đất nêu trên trước đây là của bà Quách Thị B là mẹ đẻ ông Quách Công H, thời điểm đó bà B chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2004 bà B có bán cho ông Nhan Hữu S và bà Dương Thị T4, hai bên có viết giấy chuyển nhượng (viết tay). Khi bà T4 chết, ông S bán cho gia đình ông H1 và bà Nguyễn Thị S1 (đã chết) là vợ ông H1. Ngày 17/7/2009, ba gia đình gồm vợ chồng bà Quách Thị B, ông Nguyễn Danh H4; vợ chồng ông Hoàng Đình H1, bà Nguyễn Thị S1 và ông Nhan Hữu S có lập 01 bản cam kết với nội dung vợ chồng ông H4, bà B chuyển nhượng cho vợ chồng ông H1, bà S1 diện tích 90m² trong đó chiều dài 15m, chiều rộng 6m (trong tổng diện tích 297m²) và cam kết sau khi bà B được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tách sổ cho vợ chồng tôi. Tuy nhiên, sau đó gia đình bà B không tách sổ cho gia đình tôi, đến năm 2014 gia đình ông H4, bà B khởi kiện gia đình tôi, đã được Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình xử sơ thẩm tại Bản án dân sự số 06/2013/DS-ST ngày 13/3/2013 và Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phúc thẩm tại Bản án số 02/2014/DSPT ngày 09/01/2014 huỷ bản án sơ thẩm, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có kết quả xét xử cuối cùng.
Nay phía Ngân hàng TMCP Đ (B1) khởi kiện yêu cầu ông H trả nợ cho Ngân hàng thì ông H1 không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu tiến hành phát mại tài sản đảm bảo của ông H để thi hành án thu hồi nợ, tài sản thế chấp đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m² tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình trường hợp ông H không có khả năng trả nợ thì ông H1 không đồng ý vì ảnh hưởng đến quyền lợi của ông, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
3
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, tại bản tự khai vợ chồng anh Lê Anh H3 và chị Lê Thị H2 trình bày:
Anh Lê Anh H3 và chị Lê Thị H2 không có mối quan hệ gì với ông Quách Công H. Ngày 30/10/2021, vợ chồng anh H3, chị H2 với ông Lê Đồng K và bà Bùi Thị L lập “Giấy đặt cọc mua đất + nhà” (viết tay) để mua thửa đất đối với thửa đất số 275, tờ bản đồ 07, diện tích 126,2m² tại tổ A, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình. Theo như giấy đặt cọc thì vợ chồng tôi mua bao gồm đất trong bìa và đất sử dụng ngoài bìa, xây dựng tường bao và bao bao gồm tài sản nhà xây sẵn và các thiết bị cố định lắp đặt kèm theo, hai bên có ký vào giấy đặt cọc. Số tiền đặt cọc là 160.000.000đ (Một trăm sáu mươi triệu đồng). Sau khi đặt cọc đến ngày 23/11/2021, hai bên có ra Văn phòng C lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối số 1755, quyển số 02/SCC/HĐGD-T với thửa đất đã đặt cọc với giá trị là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng).
Ngày 19/3/2024, Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình tiến hành xem xét, thẩm định đối với thửa đất của ông Quách Công H thì anh H3 và chị H2 mới biết một phần thửa đất anh chị mua của ông K, bà L là thuộc thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, bao gồm 01 ngôi nhà 04 tầng không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Việc có sự lấn chiếm như vậy gia đình H3, H2 hoàn toàn không biết, chỉ biết là khi mua từ ông K thực trạng thửa đất đã như vậy, anh H3 và chị H2 cũng không đo đạc lại.
Nay phía Ngân hàng TMCP Đ (B1) khởi kiện yêu cầu ông H trả nợ cho Ngân hàng thì anh H3, chị H2 không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu tiến hành phát mại tài sản đảm bảo của ông H để thi hành án thu hồi nợ, tài sản thế chấp đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m² tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình trường hợp ông H không có khả năng trả nợ thì anh H3 và chị H2 không đồng ý vì ảnh hưởng đến quyền lợi của anh chị, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật. Ông không có yêu cầu xem xét việc tranh chấp giữa ông với bên bị đơn. Anh H3, chị H2 không có yêu cầu hay phản tố gì.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, tại bản tự khai ông Lê Đồng K trình bày:
Do có nhu cầu mua đất, qua môi giới là chị Kiều Thị L1 ông K biết được thửa đất số 275, tờ bản đồ số 07, diện tích 126,2m² tại tổ A, phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình mang tên bà Đỗ Thị Mai T5 có nhu cầu bán. Ngày 17/3/2020, ông K và bà T5 có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số công chứng 142/2020, quyển số 01/HĐCN-CCĐN tại Văn phòng C1, khi mua gồm đất và tài sản gắn liền trên đất với giá trị là 450.000.000đ (Bốn trăm năm mươi triệu đồng). Sau khi mua ông K đã làm thủ tục giấy tờ sang tên Lê Đồng K, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 583796, số vào sổ cấp GCN: CS 02388 được Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp ngày 09/4/2020.
4
Sau khi mua, ông K và bà L không ở và cũng không thay đổi hiện trạng của thửa đất hay xây dựng, cơi nới thêm công trình gì, khi ông K mua tài sản trên đất đã bao gồm ngôi nhà 04 tầng và công trình phụ. Về việc ngôi nhà cấp 4 không nằm trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất thì ông K không rõ. Sau đó, do không có nhu cầu ở ông K và bà L bán thửa đất trên cho anh Lê Anh H3 và chị Lê Thị H2, ngày 23/11/2021, hai bên có ra Văn phòng C lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối số 1755, quyển số 02/SCC/HĐGD-T với thửa đất đã đặt cọc với giá trị là 600.000.000đ (Sáu trăm triệu đồng).
Nay phía Ngân hàng TMCP Đ (B1) khởi kiện yêu cầu ông H trả nợ cho Ngân hàng và trường hợp ông H không có khả năng trả nợ đề nghị tiến hành phát mại tài sản đảm bảo của ông H để thi hành án thu hồi nợ, tài sản thế chấp đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m² tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình thì ông K không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện buộc ông H phải trả nợ cho ngân hàng cả gốc và tiền lãi cho đến nay. Về xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m² tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình nguyên đơn xin rút yêu cầu để tự thoả thuận với các bên đương sự; Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm, đảm bảo quyền và lợi ích của các đương sự. Về phía người tham gia tố tụng, nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại các Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự. Phía Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 72 Bộ luật dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị HĐXX chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đối với bị đơn, buộc bị đơn ông Quách Công H thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo yêu cầu khởi kiện của phía Nguyên đơn căn cứ trên Hợp đồng tín dụng hai bên đã ký kết; Đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ yêu cầu khởi kiện đối với yêu cầu phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m² tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình.
Về án phí: Bị đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về tố tụng: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu kèm theo xác định đây là quan hệ pháp luật tranh chấp Hợp đồng tín dụng theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Về thẩm quyền giải quyết, do bị đơn – Quách Công H, có nơi cư trú tại: Tổ A (tổ B cũ), phường H, thành phố H, tỉnh Hòa Bình, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình theo quy định căn cứ khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
5
Tại phiên tòa lần thứ nhất bị đơn đã được Tòa triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt, Hội đồng xét xử đã tiến hành hoãn phiên toà. Tại phiên toà lần hai, bị đơn tiếp tục vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt. Nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
* Xét yêu cầu của nguyên đơn, thấy rằng: Ngân hàng B1 khởi kiện yêu cầu ông Quách Công H thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, nợ lãi và các khoản phát sinh liên quan theo các Hợp đồng tín dụng nêu trên, cụ thể tính đến ngày 24/7/2024, ông H còn nợ phía Ngân hàng B1;
Hợp đồng tín dụng số 01/2016/9270931/HĐTD ngày 19/12/2016, số tiền nợ gốc là 619.800.000 đồng; Tiền lãi trong hạn 380.561.436 đồng; Lãi phạt quá hạn là 62.515.382 đồng. Tổng cộng là 1.062.876.818 đồng.
Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9270931/HĐTD ngày 30/11/2018, số tiền nợ gốc là 570.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn 284.934.931 đồng; Lãi phạt quá hạn là 129.740.012 đồng. Tổng cộng là 984.674.943 đồng.
Tổng cộng cả hai hợp đồng anh Quách Công H phải thanh toán cho ngân hàng là: Tiền nợ gốc 1.189.800.000 đồng; Tiền lãi 665.496.367 đồng; T3 lãi phạt quá hạn là 192.255.394 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi của hai hợp đồng là 2.047.551.761 đồng. Đồng thời kể từ ngày sau khi Tòa xét xử vụ án, Ngân hàng đề nghị ông H phải tiếp tục chịu lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ gốc. Qúa trình giải quyết vụ án, Toà án đã tiến hành tống đạt, triệu tập nhiều lần nhưng ông H thường xuyên vắng mặt tại địa phương, trốn tránh không hợp tác đến Tòa làm việc.
Căn cứ khởi kiện theo Hợp đồng tín dụng số 01/2016/9270931/HĐTD ngày 19/12/2016 lãi suất 9%/năm áp dụng cho 12 tháng đầu, lãi suất các kỳ sáu thả nổi theo quy định của B1 trong từng thời kỳ và được điểu chỉnh tối đa 12 tháng/ lần theo thông báo lãi suất của Ngân hàng tại thời điểm điều chỉnh; Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Mục đích vay là xây nhà; Và Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9270931/HĐTD ngày 30/11/2018 số tiền vay là 600.000.000₫ (Sáu trăm triệu đồng). Thời hạn vay là 11 tháng, lãi suất 9,5%/năm, lãi suất quá hạn đối với nợ gốc quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; Mục đích kinh doanh karaoke, café, nước giải khát...; Thời hạn vay: 11 tháng. Cùng các tài liệu phía nguyên đơn giao nộp, xét thấy trong Hợp đồng hai bên đã tự nguyện giao kết, các nội dung thỏa thuận phù hợp với quy định do vậy phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên. Việc các bên thỏa thuận về lãi suất và lãi suất quá hạn đúng pháp luật, phù hợp với quy định tại Luật các tổ chức tín dụng. Do đó, ông Quách Công H vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên Ngân hàng B1 khởi kiện buộc ông H trả số nợ gốc, lãi và các khoản phí phát sinh căn cứ trên Hợp đồng hai bên ký kết là có căn cứ, được chấp nhận.
Về Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2016/9270931/HĐBĐ là: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS
6
510987 do Sở tài nguyên và môi trường tỉnh H cấp ngày 19/9/2016, số vào sổ CS 02395, thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m²; Nhà xây cấp 4, 01 tầng tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình thì ông H đã thế chấp thửa đất trên để đảm bảo cho khoản vay. Tại phiên toà đại diện nguyên đơn tự nguyện xin rút yêu cầu không đề nghị toà giải quyết để ngân hàng và các bên tự thoả thuận, các bên đương sự nhất trí không có ý kiến gì về việc rút yêu cầu của nguyên đơn. Xét việc rút yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là tự nguyện nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông H1: Ông H1 khẳng định bản thân đã mua lại 90m² đất đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, tại tổ G, phường T, TP H từ ông Nhan Hữu S và vợ chồng bà Quách Thị B, ông Nguyễn Danh H4 nhưng chưa làm được Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông H1 quản lý thửa đất, sinh sống ổn định từ năm 2009 đến nay và khẳng định là đất của ông. Việc ông H sang tên thửa đất mang tên ông Quách Công H và thế chấp thửa đất tôi hoàn toàn không biết. Việc phía nguyên đơn yêu cầu anh H trả tiền theo hợp đồng tín dụng và tại phiên toà rút yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp ông không có ý kiến gì và cũng không có yêu cầu đề nghị gì nên không đề cập.
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vợ chồng anh H3, chị H2: Anh H3, chị H2 khẳng định đã mua thửa đất thửa đất số 275, tờ bản đồ 07, diện tích 126,2m² tại tổ A, phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình từ ông Lê Đồng K, hai bên có lập Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất tại Văn phòng công chứng, khi mua là bao gồm cả đất và tài sản gắn liền trên đất là ngôi nhà cấp 4, việc ngôi nhà cấp 4 không phải thuộc trong bìa đỏ anh chị hoàn toàn không biết. Việc phía nguyên đơn yêu cầu ông H trả tiền theo hợp đồng tín dụng và tại phiên toà rút yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp chị H2 không có ý kiến gì và cũng không có yêu cầu đề nghị gì nên không đề cập.
[3] Về án phí: Nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm; Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 244 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cức Điều 275, 280, 463, 466 Bộ luật dân sự;
- - Căn cứ Điều 91, 95 Luật các Tổ chức tín dụng;
- - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ - HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
- - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1 - Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP Đ (B1) đối với ông Quách Công H, buộc ông H phải thanh toán cho Ngân hàng B1 số tiền là:
Hợp đồng tín dụng số 01/2016/9270931/HĐTD ngày 19/12/2016, số tiền nợ gốc là 619.800.000 đồng; Tiền lãi trong hạn 380.561.436 đồng; Lãi phạt quá hạn là 62.515.382 đồng. Tổng cộng là 1.062.876.818 đồng.
Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9270931/HĐTD ngày 30/11/2018, số tiền nợ gốc là 570.000.000 đồng; Tiền lãi trong hạn 284.934.931 đồng; Lãi phạt quá hạn là 129.740.012 đồng. Tổng cộng là 984.674.943 đồng.
Tổng cộng cả hai hợp đồng anh Quách Công H phải thanh toán cho ngân hàng là: Tiền nợ gốc 1.189.800.000 đồng; Tiền lãi 665.496.367 đồng; T3 lãi phạt quá hạn là 192.255.394 đồng. Tổng cộng số tiền gốc và lãi của hai hợp đồng là 2.047.551.761 đồng.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Quách Công H tiếp tục phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa hai bên cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ.
2 - Đình chỉ yêu cầu về xử lý tài sản thế chấp là thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m²; Nhà xây cấp 4, 01 tầng tại tổ B (Nay là tổ A), phường T, TP H, tỉnh Hòa Bình để Ngân hàng B1 tự thoả thuận với các bên đương sự có liên quan.
3 - Về án phí: Ông Quách Công H chịu 72.951.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Ngân hàng TMCP Đ (B1) được nhận lại số tiền 34.500.000đ (Ba mươi tư triệu năm trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền số 0005026 ngày 02/8/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4 - Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Trường hợp vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.
8
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Duy Tuấn |
Bản án số 11/2024/DS-ST ngày 24/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 11/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÒA BÌNH, TỈNH HOÀ BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển Việt Nam (BIDV) khởi kiện yêu cầu ông Hải trả nợ cho Ngân hàng thì ông Hiệp không có ý kiến gì. Đối với yêu cầu tiến hành phát mại tài sản đảm bảo của ông Hải để thi hành án thu hồi nợ, tài sản thế chấp đối với thửa đất số 274, tờ bản đồ số 07, diện tích 162,2m2 tại tổ 23 (Nay là tổ 18), phường Tân Thịnh, TP Hòa Bình, tỉnh Hòa Bình trường hợp ông Hải không có khả năng trả nợ thì ông Hiệp không đồng ý vì ảnh hưởng đến quyền lợi của ông, đề nghị Tòa án xem xét giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.
