Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ HOÀNG MAI

TỈNH NGHỆ AN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24 – 5 – 2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Huy Mạnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Văn Trọng.

Bà Trần Thị Nhài.

- Thư ký phiên toà: Ông Cao Trọng Sơn – Thư ký Tòa án Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Đào Giang Lệ – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Hoàng Mai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 02 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”; theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 30/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 31/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị L, sinh năm 1986; nơi ĐKHKTT: TDP T, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Hồ Đình H, sinh năm 1987; nơi ĐKHKTT: TDP T, phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị L trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Hồ Đình H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An vào ngày 25/12/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình và quan điểm sống không hợp nhau; mâu thuẫn vợ chồng xảy ra và đã được gia đình hai bên hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng vẫn không được cải thiện và mâu thuẫn ngày càng trầm trọng nên vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2023 đến nay, không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau nữa. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Đình H.

Về con chung: Chị và anh Hồ Đình H có 02 người con chung là Hồ Đình Gia B, sinh ngày 14/9/2015 và Hồ Đình Minh Đ, sinh ngày 04/10/2018. Từ lúc vợ chồng sống ly thân đến nay thì các con đều do chị chăm sóc, nuôi dưỡng. Ly hôn, chị có nguyện vọng được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả 02 người con cho đến khi các con đến khi trưởng thành và không yêu cầu anh Hồ Đình H cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về phía bị đơn: Trong quá trình giải quyết Tòa án đã thông báo, triệu tập cho anh H đúng quy định. Tuy nhiên anh H không có mặt tại Tòa án để làm việc. Vậy nên Tòa án không lấy được ý kiến của anh H đối với yêu cầu xin ly nuôi, nuôi con của chị L.

Kết quả xác minh tình trạng hôn nhân, nơi cư trú của các đương sự tại Ủy ban nhân dân phường M thể hiện: Anh H và chị L có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M và đăng ký hộ khẩu trú tại phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An. Quá trình sinh sống tại địa phương thì vợ chồng chị L, anh H thường xảy ra mâu thuẫn.

Tại đơn trình bày nguyện vọng của cháu Hồ Đình Gia B thì cháu có nguyện vọng được ở với mẹ, vì từ trước đến nay cháu ở với mẹ.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An phát biểu ý kiến: Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký thực hiện đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 51; Điều 56; Điều 81; 82, 83, 84, 88 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 28, 35, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xử: Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị L và anh Hồ Đình H được ly hôn. Về con chung: Giao 02 người con chung là Hồ Đình Gia B, sinh này 14/9/2015 và Hồ Đình Minh Đ, sinh ngày 04/10/2018 cho chị Trần Thị L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con cho anh Hồ Đình H do chị L chưa yêu cầu. Về tài sản chung: Chị Trần Thị L không yêu cầu; anh Hồ Đình H không có ý kiến gì. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Áp dụng Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án; lời trình bày của đương sự đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng: Nguyên đơn chị Trần Thị L yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Hồ Đình H có nơi đăng ký hộ khẩu thường trú tại phường M, thị xã H, tỉnh Nghệ An, nên đây là vụ án tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Hoàng Mai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vắng mặt trong các buổi làm việc, hòa giải. Vì vậy, vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại khoản 2, Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đương sự đều vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự theo đúng quy định.

[2]. Về hôn nhân: Chị Trần Thị L và anh Hồ Đình H kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M vào ngày 25/12/2014 nên đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống không hạnh phúc được khoảng 05 năm thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do vợ chồng tính tình, quan điểm sống không hợp nhau; mâu thuẫn đã được hai bên gia đình hòa giải nhiều lần nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện. Hiện tại, chị L khẳng định tình cảm vợ chồng không còn và nhất quyết yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hồ Đình H. Quá trình giải quyết vụ án, anh Hồ Đình H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng đều vắng mặt không có lý do, không hợp tác làm việc với Tòa án, điều đó chứng tỏ không có ý thức để đoàn tụ xây dựng hạnh phúc gia đình. Và thực tế thì vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm, chăm sóc nhau. Xét thấy, việc vợ chồng sống ly thân không quan tâm, chăm sóc nhau là vi phạm quyền và nghĩa vụ của vợ chồng theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình, làm cho hôn nhân đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, mục đích của hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện, cho chị Trần Thị L được ly hôn với anh Hồ Đình H.

[3]. Về con chung: Chị L và anh Hồ Đình H có 02 người con chung là Hồ Đình Gia B, sinh ngày 14/9/2014 và Hồ Đình Minh Đ, sinh ngày 04/10/2018. Ly hôn, chị L có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng các con cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành. Cháu Hồ Đình Minh Đ có nguyện vọng được ở với mẹ.

Xét thấy, việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con chưa thành niên là nghĩa vụ và quyền của cha mẹ. Tuy nhiên, việc giao con cho ai là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần xem xét đến các điều kiện để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt tốt nhất cho con. Xét thấy, từ lúc vợ chồng sống ly thân cho đến nay, chị L là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, cháu phát triển khỏe mạnh bình thường. Chị L có việc làm và thu nhập ổn định, đảm bảo các điều kiện để nuôi con. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để làm việc nhưng anh H đều vắng mặt không có lý do, điều đó chứng tỏ anh H đã từ bỏ quyền và nghĩa vụ nuôi con chung của mình; không có trách nhiệm đối với các con. Vì vậy, cần tiếp tục giao 02 con chung cho chị Trần Thị L được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ tuổi trưởng thành là có căn cứ, đúng pháp luật và phù phù hợp với nguyện vọng của con. Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[4]. Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Do chị L chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hồ Đình H là phù hợp.

[5]. Về tài sản chung: Chị L không yêu cầu Tòa án giải quyết; anh Hồ Đình H không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét. Trường hợp các đương sự yêu cầu thì có quyền khởi kiện bằng một vụ kiện dân sự khác.

[6]. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.

[7]. Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 56, Điều 81, 82, 83 và Điều 88 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 147, 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị L.

  1. Về hôn nhân: Cho chị Trần Thị L và anh Hồ Đình H được ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung Hồ Đình Gia B, sinh ngày 14/9/2015 và Hồ Đình Minh Đ, sinh ngày 04/10/2018 cho chị Trần Thị L trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con cho đến khi các con đủ tuổi trưởng thành. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh Hồ Đình H do chị Trần Thị L chưa yêu cầu. Anh Hồ Đình H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

    Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, khi có yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về án phí: Chị Trần Thị L phải chịu 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0008467 ngày 27/02/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Hoàng Mai, tỉnh Nghệ An.
  4. Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị L và anh Hồ Đình H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - VKSND thị xã Hoàng Mai;
  • - Các đương sự
  • - Chi Cục THADS thị xã Hoàng Mai;
  • - TAND tỉnh Nghệ An;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An
  • - UBND phường Mai Hùng
  • - Lưu HSVA; VPTA

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Huy Mạnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HOÀNG MAI, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lộc - Hiếu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger