|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 11/2024/HNGĐ-ST Ngày 23-8-2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Các Hội thẩm nhân dân.
- Bà Lê Thị Mai Hương;
- Bà Đỗ Thị Viện;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Việt - Thư ký Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Trần Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 01/2024/TLST-HNGĐ ngày 05 tháng 01 năm 2024, về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 14/2024/QĐST-HNGĐ ngày 05 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 1985; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- - Bị đơn: Anh Nguyễn Mạnh S, sinh năm 1993; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong Đơn khởi kiện đề ngày 02-01-2024, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn là chị Nguyễn Thị L trình bày:
Chị và anh Nguyễn Mạnh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng ngày 04 tháng 02 năm 2004. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu anh chị hạnh phúc và có với nhau hai con chung. Đến đầu năm 2023, anh chị bắt đầu nảy sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là do những bất đồng về tính cách, quan điểm sống, mặt khác do anh S chưa chuyên tâm lo cho gia đình, thiếu quan tâm đến vợ con, dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng rạn nứt, không thể hàn gắn. Mặc dù anh chị đã được hai bên gia đình hoà giải nhiều lần, nhưng không có kết quả. Từ tháng 5 năm 2023 đến nay, chị và anh S sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai, hai bên bỏ mặc nhau ai muốn sống ra sao thì sống. Đến nay chị xác định không còn tình cảm với anh S, hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy, chị đề nghị Tòa án xem xét, giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyễn Mạnh S.
- Về con chung: Chị và anh Nguyễn Mạnh S có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2004 và Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2014. Cháu H đã thành niên nên chị không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu T do đang ở cùng với bố, nơi ăn học ổn định nên chị đề nghị Toà án tuyên cho anh S được quyền nuôi con để không làm ảnh hưởng, xáo trộn cuộc sống của con. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung chị tự thỏa thuận với anh S, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về các vấn đề khác: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình Tòa án thụ lý và giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Mạnh S đã biết việc chị Nguyễn Thị L xin ly hôn với anh, tuy nhiên do anh đang bận công việc nên không thể đến Toà án theo giấy triệu tập, tại biên bản lấy lời khai ngày 18 tháng 6 năm 2024 anh S trình bày thống nhất với chị L về thời gian kết hôn, con chung, tài sản chung như chị L trình bày là đúng. Do anh chị có nhiều bất đồng trong quan điểm sống nên hôn nhân không có hạnh phúc. Đỉnh điểm là từ khoảng tháng 5, tháng 6 năm 2023 chị L tự bỏ ra ngoài thuê nhà trọ sống ly thân với anh, anh đã tìm đến nơi chị L thuê trọ để thuyết phục nhưng hai vợ chồng vẫn không tìm được tiếng nói chung, chị L kiên quyết không quay về chung sống với anh. Đến nay chị L gửi đơn khởi kiện đến Toà án xin ly hôn anh thì anh cũng không có ý kiến gì, để chị L tự quyết định. Về con chung anh chị có hai con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2004 và Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2014. Cháu H đã thành niên nên anh không yêu cầu Toà án giải quyết. Cháu T từ khi vợ chồng ly thân, chị L bỏ ra ngoài thuê nhà trọ ở một mình còn cháu T vẫn ở với anh, hiện nay cháu đang học ở trường tiểu học B gần nhà thuận tiện trong việc anh đưa đón cháu đi học. Anh làm nghề sửa chữa máy tàu, thu nhập khoảng 20.000.000đồng/tháng, đủ điều kiện nuôi con. Vì vậy, nếu ly hôn anh đề nghị Toà án tuyên cho anh được quyền nuôi con. Về tài sản chung anh tự thoả thuận với chị L, không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tài liệu xác minh tại địa phương và gia đình thể hiện: Mâu thuẫn giữa chị L và anh S là có thật, nguyên nhân là do bất đồng về tính cách và quan điểm sống, mặt khác do anh S chưa có sự quan tâm nhiều đến vợ con dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn. Từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay, chị L và anh S sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Gia đình hai bên cũng đã động viên, hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Địa phương và gia đình đề nghị Tòa án căn cứ vào các quy định của pháp luật để giải quyết.
Tại phiên tòa chị Nguyễn Thị L có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
* Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo đúng quy định của pháp luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Nguyên đơn đã chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án; Bị đơn chưa chấp hành đầy đủ quy định của pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, căn cứ vào khoản 2 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Mạnh S. Về con chung: Giao con chung là: Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2014 cho anh Nguyễn Mạnh S trực tiếp nuôi dưỡng. Con Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2004 đã thành niên nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh chị tự thỏa thuận và không yêu cầu nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào ý kiến của các đương sự, kết quả xác minh, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là vụ án ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn hiện đang cư trú tại tổ dân phố Đ, phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.
- Về nội dung vụ án:
[3] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Mạnh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, quận Đ, thành phố Hải Phòng theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
[4] Về yêu cầu ly hôn của nguyên đơn: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của nguyên đơn, biên bản ghi ý kiến của bị đơn và gia đình bị đơn, biên bản xác minh tại Tổ dân phố nơi chị L, anh S cư trú thấy quá trình chung sống giữa chị L và anh S có phát sinh nhiều mâu thuẫn do tính cách, quan điểm sống không hợp nhau. Từ tháng 5 năm 2023 đến nay anh chị sống ly thân, mỗi người một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Như vậy có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa hai người là có thật. Trong đơn khởi kiện, bản tự khai chị L đều khai thống nhất mâu thuẫn vợ chồng đã ở mức trầm trọng do bất đồng về tính cách, quan điểm sống. Chị không còn tình cảm gì với anh S, nếu tiếp tục chung sống thì cuộc sống của vợ chồng không có hạnh phúc. Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở xác định tình trạng mâu thuẫn giữa hai anh chị đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không có cơ hội đoàn tụ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị L là cần thiết, bảo đảm quyền ly hôn của nguyên đơn, giúp cho anh chị sớm ổn định cuộc sống là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[5] Về con chung: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Mạnh S có 02 con chung là Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2004 và Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2014. Xét thấy, cháu Nguyễn Văn H đã thành niên đủ 18 tuổi, cả chị L và anh S đều không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Cháu Thu T từ khi chị L và anh S sống ly thân, anh S là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng con, có nơi ở ổn định, cháu đang học tại trường tiểu học B trong việc anh S đưa đón đi học, mặt khác cháu cũng có nguyện vọng được ở với bố. Chị L và anh S đều thống nhất việc để anh S nuôi cháu T. Bởi vậy, chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, giao con Nguyễn Thị Thu T cho anh Nguyễn Mạnh S trực tiếp nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị L và anh S tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[6] Về tài sản chung: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Bị đơn anh Nguyễn Mạnh S mặc dù đã được Tòa án yêu cầu trình bày về việc giải quyết tài sản chung nhưng trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa vắng mặt nên không có ý kiến. Như vậy các bên không có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung. Do đó Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu không tự giải quyết được về tài sản chung, các bên có thể khởi kiện để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
[7] Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
[8] Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Mạnh S được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án,
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị L được ly hôn anh Nguyễn Mạnh S.
2. Về con chung: Giao con chung là Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2014 cho anh Nguyễn Mạnh S trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con thành niên đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng nuôi con do chị Nguyễn Thị L và anh Nguyễn Mạnh S tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Con Nguyễn Văn H, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2004 đã trưởng thành đủ 18 tuổi, chị L và anh S không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trường hợp, người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
3. Về tài sản chung: Do các bên không có yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề xem xét, giải quyết. Sau khi ly hôn, nếu không tự giải quyết được về tài sản chung, các bên có thể khởi kiện để giải quyết bằng một vụ án dân sự khác sau.
4. Về các vấn đề khác: Chị Nguyễn Thị L không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
5. Về án phí: Chị Nguyễn Thị L phải nộp 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006514, ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo:
Nguyên đơn có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Minh Phương |
Bản án số 11/2024/HNGĐ-ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 11/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN ĐỒ SƠN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con giữa chị L và anh S
