Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày 23/5/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn Côn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Đức Trưởng và ông Bùi Hồng Đào.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Ông Đinh Xuân Tiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST- HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2024/QĐXXST- HS ngày 09 tháng 5 năm 2024 đối với các Bị cáo:

01. Họ và tên: Phùng Sinh Đ (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 08 tháng 04 năm 1987;

Nơi ĐKNKTT: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở hiện nay: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Làm động tự do;

Bố đẻ: Phùng Văn P, sinh năm: 1953; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Mẹ đẻ: Phùng Thị B, sinh năm: 1960; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vợ: Triệu Thị T, sinh năm: 1990; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con: Phùng Thị H, sinh năm: 2008;

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật):

Ngày 15/3/2015, Công an huyện T đã xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau đến nay đã chấp hành xong.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn tại địa phương chờ xử lý. (Có mặt)

02. Họ và tên: Trịnh Văn M; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 19 tháng 05 năm 1995;

Nơi ĐKNKTT: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở hiện nay: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm động tự do;

Bố đẻ: (Không xác định được);

Mẹ đẻ: Trịnh Thị L, sinh năm: 1957; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn tại địa phương chờ xử lý (Có mặt).

03. Họ và tên: Phùng Sinh N; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 10 tháng 10 năm 1984;

Nơi ĐKNKTT: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở hiện nay: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Làm động tự do:

Bố đẻ: Phùng Văn P, sinh năm: 1953; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Mẹ đẻ: Phùng Thị B, sinh năm: 1960; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vợ: Bàn Thị H1, sinh năm: 1982; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con: có 03 con ruột (lớn nhất sinh năm: 2009, nhỏ nhất sinh năm: 2015);

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn tại địa phương chờ xử lý (Có mặt)

04. Họ và tên: Trịnh Phúc T1; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày 09 tháng 03 năm 1990;

Nơi ĐKNKTT: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở hiện nay: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Làm động tự do;

Bố đẻ: Trịnh Văn X, sinh năm: 1969; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Mẹ đẻ: Trịnh Thị H2, sinh năm: 1967; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vợ: Dương Thị C, sinh năm: 1996; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con: có 02 con ruột (lớn sinh năm: 2011, nhỏ sinh năm: 2014);

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn tại địa phương chờ xử lý. (Có mặt)

05. Họ và tên: Phùng Sinh H3; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 08 tháng 02 năm 1987;

Nơi ĐKNKTT: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở hiện nay: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 5/12; Nghề nghiệp: Làm động tự do;

Bố đẻ: Phùng Văn K, sinh năm: 1968; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Mẹ đẻ: Trịnh Thị Y, sinh năm: 1968; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vợ: Đinh Thị T2, sinh năm: 1994; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con: có 03 con ruột (lớn nhất sinh năm: 2007, nhỏ nhất sinh năm: 2021);

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không.

- Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn tại địa phương chờ xử lý. (Có mặt)

06. Họ và tên: Triệu Văn T3; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 14 tháng 10 năm 1998;

Nơi ĐKNKTT: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ; Chỗ ở hiện nay: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm động tự do;

Bố đẻ: Trịnh Duyên V, sinh năm: 1971; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Mẹ đẻ: Trịnh Thị D, sinh năm: 1972; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vợ, con: Chưa có;

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn tại địa phương chờ xử lý. (Có mặt)

07. Họ và tên: Trịnh Duyên H4; Tên gọi khác: Không;

Sinh ngày: 18 tháng 06 năm 1994;

Nơi ĐKNKTT: xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Chỗ ở hiện nay: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;

Dân tộc: Dao; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam

Trình độ học vấn: 12/12; Nghề nghiệp: Làm động tự do;

Bố đẻ: Trịnh Duyên L1, sinh năm: 1973; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Mẹ đẻ: Lương Thị H5, sinh năm: 1974; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Vợ: Lê Thị T4, sinh năm: 1999; Nghề nghiệp: Lao động tự do;

Con: có 02 con ruột (lớn sinh năm: 2014, nhỏ sinh năm: 2019);

Hiện nay, đều ở tại xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân (án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật): Không

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/02/2024 đến ngày 05/02/2024 thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện nay, đang chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn tại địa phương chờ xử lý. (Có mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo Đ: Bà Nguyễn Thị Bích T5 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (Vắng mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo H3: Bà Đinh Thị H6 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo T1: Bà Đỗ Hồng N1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo T3 và bị cáo M: Ông Lã Thành C1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (Có mặt)

- Người bào chữa cho bị cáo N và bị cáo H4: Ông Bùi Đức D1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. (Có mặt)

- Người chứng kiến: anh Phùng Minh T6, sinh năm 1983; Nơi cư trú: xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

  1. Về hành vi phạm tội của các Bị cáo:

    Khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 01 tháng 02 năm 2024, sau khi ăn cơm, uống rượu tại nhà ở của Trịnh Văn M, sinh năm: 1995 ở xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Các đối tượng gồm: Trịnh Văn M (Chủ nhà); Trịnh Duyên H4, sinh năm: 1994; Phùng Sinh N, sinh năm: 1984; Phùng Sinh Đ, sinh năm: 1987; Phùng Sinh H3, sinh năm: 1987; Trịnh Phúc T1, sinh năm: 1990 và Triệu Văn T3, sinh năm: 1998 (Đều thường trú: ở xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ) cùng rủ nhau “Đánh bạc" ăn tiền bằng quân bài tú lơ khơ, dưới hình thức chơi “Ba cây” tại phòng khách nhà ở của Trịnh Văn M, bài tú lơ khơ và chiếu cói đã có sẵn tại nhà M.

    Hình thức chơi: Lấy một bộ bài tú lơ khơ 52 quân, chọn lấy 36 quân bài, từ bộ tứ quân Á (quân Át ký hiệu A tính là 01) đến bộ tứ quân 9. Khi chơi một người chia bài gọi là cầm “Chương”, các đối tượng quy định người chơi đặt cược thấp nhất là 50.000đ trên một ván và cao nhất thì tùy người chơi cược, hình thức thanh toán bằng tiền mặt. Người cầm “C2” chia bài cho mỗi người chơi ba quân bài, sau đó cộng điểm ba quân bài đã chia lại với nhau, nếu tổng điểm lớn hơn mười lấy hàng đơn vị để tính điểm (20 điểm thì tính là 10 điểm), nếu điểm bằng nhau sẽ so sánh bài với nhau, trước tiên là so theo chất thứ tự rô, cơ, bích, tép, sau đó so sánh con số của chất, lớn ăn bé, trường hợp đặc biệt bài có Át rô là bài có chất cao nhất để so điểm với “Chương”, nếu người chơi có điểm số cao hơn người cầm “Chương” thì thắng bạc và được người cầm “Chương” trả số tiền tương ứng với số tiền mà người chơi đã đặt cược, ngược lại nếu số điểm người chơi thấp hơn người cầm “Chương” là thua bạc và mất số tiền mà người chơi đã đặt cược. Quá trình đánh bạc, nếu người chơi có số điểm tròn chục là 10 điểm cao nhất thì người chơi đó được làm “Chương” cho ván tiếp theo.

    Các đối tượng cùng nhau đánh bạc ăn tiền đến 15 giờ 15 phút cùng ngày, thì bị tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã Vinh Tiền phát hiện, lập biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, thu giữ trên chiếu bạc số tiền: 8.170.000 VNĐ, 36 quân bài tú lơ khơ, 01 chiếc chiếu cói đã qua sử dụng và dẫn giải các đối tượng Phùng Sinh Đ, Phùng Sinh H3, Trịnh Phúc T1, Triệu Văn T3, Trịnh Văn M, Phùng Sinh NTrịnh Duyên H4 về trụ sở Công an huyện T để điều tra, làm rõ.

    Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các Bị cáo đều đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

  2. Các vấn đề khác của vụ án:

    Tại Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, các đối tượng đã khai nhận toàn bộ hành vi “đánh bạc” ăn tiền bằng quân bài tú lơ khơ dưới hình thức chơi “Ba cây” được thua bằng tiền của mình như đã nêu trên. Các đối tượng khai nhận khi tham gia đánh bạc Đại có số tiền 200.000đ, H3 có số tiền khoảng 1.170.000đ, T1 có số tiền khoảng 2.000.000đ, M có số tiền là 1.800.000đ, N có số tiền là 2.100.000đ, T3 có số tiền khoảng 600.000đ và H4 có số tiền khoảng 350.000đ. Lời khai của các đối tượng phù hợp với nhau, phù hợp với vật chứng và các chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được.

    Ngày 05/02/2024 Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự; khởi tố bị can và ra Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với: Trịnh Văn M, Trịnh Duyên H4, Phùng Sinh N, Phùng Sinh Đ, Phùng Sinh H3, Trịnh Phúc T1Triệu Văn T3 về tội: “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

    Vật chứng vụ án: Tiền ngân hàng N2 8.170.000đ hiện đang gửi tại kho bạc Nhà nước huyện T, tỉnh Phú Thọ; 36 quân bài tú lơ khơ và 01 chiếu cói cũ là vật chứng đã được giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn ngày 03/05/2024

  3. Về trích dẫn Cáo trạng của Viện kiểm sát:

    Tại Bản cáo trạng số:11/CT-VKS-TS ngày 22/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ đã truy tố các Bị cáo: Phùng Sinh Đại, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015.

    Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

    - Tuyên bố các Bị cáo: Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4, phạm tội “Đánh bạc”

    -Áp dụng: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1,2,4 Điều 36 BLHS năm 2015.

    - Xử phạt Bị cáo Phùng Sinh Đ và Bị cáo Trịnh Văn M mỗi Bị cáo từ 15 tháng đến 18 tháng Cải tạo không giam giữ. Nhưng được khấu trừ 05 ngày tạm giữ được quy đổi thành 15 ngày Cải tạo không giam giữ. Nay còn phải chấp hành 14 tháng 15 ngày đến 17 tháng 15 ngày Cải tạo không giam giữ.

    - Xử phạt Bị cáo Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 mỗi Bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng Cải tạo không giam giữ. Nhưng được khấu trừ 05 ngày tạm giam được quy đổi thành 15 ngày Cải tạo không giam giữ. Nay còn phải chấp hành 11 tháng 15 ngày đến 14 tháng 15 ngày Cải tạo không giam giữ.

    - Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án Hình sự Công an huyện T nhận được bản sao Bản án và quyết định thi hành án. Giao các Bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ nơi các Bị cáo cư trú giám sát giáo dục. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo trong thời gian thi hành án.

    - Các Bị cáo thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp hành án với thời gian không quá 04 giờ/01 ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần.

    - Miễn áp dụng hình phạt bổ sung đối với các Bị cáo: Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4.

    - Miễn áp dụng việc khấu trừ thu nhập cho các Bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4.

    - Áp dụng: điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các Bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 theo các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 06, 07, 08, 09, 10, 11, 12 ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ.

    - Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    + Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền: 8.170.000đồng (tám triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc ăn tiền.

    + Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân cùng một chiếu cói đã qua sử dụng.

  4. Những người bào chữa cho các Bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các Bị cáo như Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa và cho các Bị cáo hình phạt ở mức thấp theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
  5. Về án phí: Các Bị cáo đều được miễn án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định
  6. Các Bị cáo nói lời sau cùng: Các Bị cáo đều xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các Bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T, tỉnh Phú Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các Bị cáo; người bào chữa cho các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Những chứng cứ xác định có tội.

Tại phiên tòa hôm nay, các Bị cáo: Phùng Sinh Đại, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu; thừa nhận Bản cáo trạng truy tố là đúng, không oan sai. Lời khai của các Bị cáo thống nhất, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, biên bản hỏi cung, biên bản lấy lời khai và vật chứng thu giữ được cùng toàn bộ các tài liệu, chứng cứ của vụ án.

Như vậy đã xác định được: Vào hồi 15 giờ 15 phút ngày 01/02/2024, tại phòng khách nhà riêng của Trịnh Văn M ở xóm L, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T phát hiện bắt quả tang Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 đang có hành vi đánh bạc ăn tiền dưới hình thức đánh “ba cây” bằng bộ bài tú lơ khơ. Thu giữ trên chiếu bạc tổng số tiền 8.170.000đ đây là số tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số tiền trên.

Các Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội trong trạng thái tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; các Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Từ các nhận định trên đã có đủ cơ sở xác định hành vi của các Bị cáo có tên nêu trên thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự;

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

- Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Vụ án tuy là ít nghiêm trọng nhưng đã có nhiều người tham gia đánh bạc được thua bằng tiền. Hành vi phạm tội của các Bị cáo là nguy hiểm, đã xâm phạm đến trật tự, trị an và nếp sống văn minh của xã hội, gây bất bình trong dư luận quần chúng nhân dân. Vì vậy cần được đưa ra xét xử nghiêm minh trước pháp luật để răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về vai trò của các Bị cáo trong vụ án thấy rằng: Các Bị cáo đánh bạc nhiều người nhưng chỉ là tự phát, không chuẩn bị phương tiện và phân công nhiệm vụ, cụ thể cho từng người nên không coi là phạm tội có tổ chức, chỉ là đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, Bị cáo M dùng nhà ở của mình để cho các Bị cáo khác đánh bạc, bản thân Bị cáo cũng tham gia nên Bị cáo M giữ vai trò tích cực hơn, các Bị cáo còn lại có vai trò như nhau trong thực hiện tội phạm.

- Về nhân thân Bị cáo: Đối với Bị cáo Phùng Sinh Đ có nhân thân xấu trước khi phạm tội, ngày 15/3/2015 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh nhau đến nay đã chấp hành xong.

Đối với các Bị cáo: Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4: Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, các Bị cáo đều có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo đều không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các Bị cáo Đ, M, N, T1, H3, T3H4 đều phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; các Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đều được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy:

- Đối với Bị cáo Trịnh Văn M dùng nhà ở của mình để cho các Bị cáo khác đánh bạc, bản thân Bị cáo cũng tham gia nên Bị cáo M giữ vai trò tích cực hơn và Bị cáo Phùng Sinh Đ có nhân thân xấu đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính. Hai Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 BLHS, các Bị cáo được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS là phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng; tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải, khai báo thành khẩn, đồng thời có nơi cư trú rõ ràng, tại địa phương đều chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của nhà nước nên quyết định cho các Bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ với thời gian như nhau, trên mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định, nhưng cần xử phạt hai Bị cáo có mức phạt cao hơn so với các Bị cáo khác là phù hợp.

- Đối với các Bị cáo: Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 cũng được hưởng 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của BLHS, các Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào được quy định tại Điều 52 BLHS. Các Bị cáo có nhân thân tốt đều phạm tội lần đầu, ít nghiêm trọng; tỏ rõ thái độ ăn năn, hối cải, khai báo thành khẩn, đồng thời có nơi cư trú rõ ràng, tại địa phương đều chấp hành tốt các chủ trương, chính sách của nhà nước nên quyết định cho các Bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ với thời gian như nhau, trên mức khởi điểm của khung hình phạt mà điều luật quy định, nhưng cho các bị cáo mức phạt nhẹ hơn đó cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 3 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015 thì “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.

Đối với các Bị cáo Đ, M, N, T1, H3, T3H4 theo kết quả xác minh về tài sản ngày 29/03/2024 của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T thì thấy, các Bị cáo không có tài sản riêng gì có giá trị lớn ngoài đồ dùng sinh hoạt trong gia đình; thu nhập không ổn định, nhà đất là tài sản duy nhất được sử dụng chung trong gia đình. Gia đình bị cáo Phùng Sinh NTrịnh Văn M đều thuộc diện hộ nghèo của xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ. Do đó, cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo là phù hợp.

- Về việc khấu trừ thu nhập: Theo khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sựu 2015 thì các bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4, có thể bị khấu trừ một phần thu nhập từ 05% đến 20% để sung quỹ nhà nước. Nhưng các bị cáo không có việc làm ổn định, là lao động tự do, thu nhập không ổn định, tháng có việc làm tháng không có việc làm nên việc khấu trừ thu nhập cho các bị cáo là phù hợp.

[4] Về xử lý vật chứng:

  • Số tiền 8.170.000đ (tám triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng), vật chứng thu được tại chiếu bạc là công cụ, phương tiện phạm tội cần tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước là phù hợp.
  • 01 bộ tú lơ khơ 36 quân và 01 chiếu cói đã qua sử dụng thu tại nhà của Bị cáo M, là vật không có giá trị cần tịch thu để tiêu hủy.

[5] Về án phí: Các Bị cáo Đ, M, N, T1, H3, T3H4 là là người dân tộc thiểu số, sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trong đó có bị cáo M và bị cáo N còn thuộc hộ nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên, những người bào chữa cho các Bị cáo tại phiên tòa là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ kết tội:

Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36 BLHS năm 2015

Tuyên bố: Các Bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 phạm tội “Đánh bạc”.

2. Trách nhiệm hình sự, hình phạt, biện pháp tư pháp:

- Xử phạt: Bị cáo Phùng Sinh Đ và Bị cáo Trịnh Văn M mỗi Bị cáo 15 tháng cải tạo không giam giữ. Các bị cáo được khấu trừ 05 ngày tạm giữ và được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Nay còn phải chấp hành 14 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.

- Xử phạt các bị cáo: Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 12 tháng cải tạo không giam giữ. Các bị cáo được khấu trừ 05 ngày tạm giữ và được quy đổi thành 15 ngày cải tạo không giam giữ. Nay còn phải chấp hành 11 tháng 15 ngày cải tạo không giam giữ.

- Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án Hình sự Công an huyện T nhận được bản sao Bản án và quyết định thi hành án.

- Giao các Bị cáo cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ nơi các Bị cáo cư trú giám sát, giáo dục. Gia đình Bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các Bị cáo trong thời gian thi hành án.

- Buộc các Bị cáo khi chưa có việc làm phải Thực hiện công việc lao động phục vụ cộng đồng trong thời gian chấp hành án, với thời gian không quá 04 giờ/01 ngày và không quá 05 ngày trong 01 tuần kể từ khi Bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi hết thời gian chấp hành án.

- Về hình phạt bổ sung: Miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các Bị cáo.

- Về việc khấu trừ thu nhập: Miễn áp dụng việc khấu trừ thu nhập cho các Bị cáo.

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các Bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4 theo các Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số: 06, 07, 08, 09, 10, 11, 12 ngày 22/4/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015; khoản 1 Điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước số tiền 8.170.000 đồng (tám triệu một trăm bảy mươi nghìn đồng) là công cụ, phương tiện phạm tội.

- Tịch thu, tiêu hủy: 01 bộ bài tú lơ khơ 36 quân bài cùng 01 chiếu cói đã qua sử dụng (thu tại nhà Bị cáo M).

Vật chứng đã được cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ ngày 03/5/2024.

4. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, khoản 6 Điều 15 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

Miễn toàn bộ án phí hình sự sơ thẩm cho các Bị cáo Phùng Sinh Đ, Trịnh Văn M, Phùng Sinh N, Trịnh Phúc T1, Phùng Sinh H3, Triệu Văn T3Trịnh Duyên H4.

5.Về quyền kháng cáo: Các Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • -VKSND huyện, tỉnh;
  • - Sở Tư pháp tỉnh
  • - CQ CSĐT Công an huyện;
  • - CQ THA dân sự huyện;
  • - UBND nơi các b/c thường trú;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Văn Côn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 23/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ về hình sự (đánh bạc)

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Phùng Sinh Đ cùng đồng phạm phạm tội đánh bạc 321
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger