Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN ĐỊNH HÓA

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HSST

Ngày 23-4-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HOÁ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Kiểm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đồng Văn Nghiên và bà Triệu Thị Tình.

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phượng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Lê Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở UBND xã P, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 11/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST- HS ngày 10 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Lưu Văn M, sinh năm 1984, tại huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; quốc tịch:Việt Nam; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; con ông Lưu Văn M1 và bà Đinh Thị C (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại Bản án số 30/HSST ngày 28/6/2012 TAND huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt M 07(bảy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Chấp hành xong bản án ngày 28/04/2017.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ. Có mặt.

* Người chứng kiến:

  • - Ông Dương Quốc C1, sinh năm: 1958. Địa chỉ: Xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.
  • - Chị Bùi Thị H, sinh năm: 1981. Địa chỉ: Xóm H, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 14 giờ 30 phút ngày 29/01/2024, tại xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Công an xã T bắt quả tang Lưu Văn M có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ 03 gói chất bột màu trắng nghi là H1 do M tự giao nộp. M khai là H1 vừa mua của một người không quen biết ở khu vực xã Đ, huyện Đ với giá 300.000 đồng mục đích để sử dụng. Công an xã T đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng ký hiệu là A1 và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ để giải quyết theo thẩm quyền.

Kết quả mở bì niêm phong kí hiệu A1 thu giữ của Lưu Văn M, cân số chất bột màu trắng có khối lượng là 0,199 gam lấy toàn bộ niêm phong trong bì ký hiệu A2 gửi giám định.

Tại kết luận giám định số 326 ngày 06/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh T kết luận: Các cục chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy, loại Heroine có khối lượng là: 0,199 gam.

Về nguồn gốc số ma tuý nêu trên, Lưu Văn M khai: Bản thân M là người nghiện ma túy. Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 29/01/2024, M đi bộ từ nhà ra đường Q thuộc địa phận xóm Q, xã T, huyện Đ rồi đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đến khu vực chợ xã Đ, huyện Đ. Tại đây, M gặp một người đàn ông khoảng 45 tuổi, không rõ lai lịch, địa chỉ, mua 300.000 đồng được 03 gói Heroin, mục đích để sử dụng cho bản thân. M cầm 03 gói ma túy cho vào túi áo khoác bên trái phía trước M đang mặc và tiếp tục đi nhờ xe mô tô của người qua đường về nhà. Khi M đến trước cửa nhà, M xuống xe thì bị Công an xã T bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như đã nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,187 gam (không phẩy một tám bẩy) gam Heroin và vỏ bao gói mẫu giám định; 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A3 bên trong có vỏ bì niêm phong; 02 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh giấy màu trắng.

Bản Cáo trạng số 13/CT - VKSĐH, ngày 31/3/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo ra trước Toà án nhân dân huyện Định Hoá, tỉnh Thái Nguyên để xét xử bị cáo Lưu Văn M về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý“ theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, bị cáo biết hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của mình là vi phạm pháp luật. Bị cáo xác định việc truy tố tại bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa đối với bị cáo theo tội danh và điều luật viện dẫn ở trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan, sai. Bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo không bị ép cung, mớm cung, dùng nhục hình.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên giữ quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội. Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, tính chất, hành vi, hậu quả mà bị cáo gây ra, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Lưu Văn M về tội danh và điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử :

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự. Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn M từ 30 đến 36 tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam là ngày 29/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy toàn bộ: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,187 gam (không phẩy một tám bẩy) gam Heroin và vỏ bao gói mẫu giám định; 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A3 bên trong có vỏ bì niêm phong; 02 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh giấy màu trắng.

Về án phí: Áp dụng các điều 135,136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Buộc bị cáo Lưu Văn M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên quyền kháng cáo đối với bản án.

Phần tranh luận: Bị cáo M không tranh luận, bào chữa.

Bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa ngày hôm nay, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo Lưu Văn M, Hội đồng xét xử thấy: Tại phiên tòa sơ thẩm ngày hôm nay, bị cáo Lưu Văn M đã khai nhận toàn bộ hành

vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai, các bản tự khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác Cơ quan Điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án, đủ căn cứ xác định: Khoảng 14 giờ 30 phút, ngày 29/01/2024, tại khu vực xóm Q, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, Lưu Văn M đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,199 gam chất ma túy, loại Heroin mục đích đích để sử dụng cho bản thân thì bị bắt quả tang.

Hành vi của bị cáo Lưu Văn M đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Điều 249.Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a. ...

c. Heroine... có khối lượng từ 0,1gam đến dưới 05 gam”.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên truy tố bị cáo Lưu Văn M về tội danh và điều luật viện dẫn ở trên và lời luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa đối với bị cáo là có đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

[3] Đánh giá về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thấy:

- Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm pháp luật hình sự; xâm phạm quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy, gây mất trật tự trị an ở địa phương, ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội. Bị cáo biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo cố ý thực hiện.

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, bị cáo là người nghiện ma tuý. Ngày 28/6/2012 bị cáo đã bị Toà án nhân dân huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên xử phạt 07 (bảy) năm tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy. Với mức án nghiêm khắc như vậy nhưng bị cáo không chịu tu dưỡng, rèn luyện để trở thành người công dân lương thiện, có ích cho gia đình và xã hội. Ngược lại, sau khi chấp hành xong hình phạt tù trở về địa phương bị cáo tiếp tục sử dụng và tái nghiện ma tuý, tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo.

- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bố của bị cáo là ông Lưu Văn M1 là người có công lao trong công cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến, là thương binh nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại

khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ tránh nhiệm hình sự đối với bị cáo, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để tập trung cải tạo mới có tác dụng giáo dục, răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo nghiện ma túy, không có tài sản gì. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,187 gam (không phẩy một tám bẩy) gam Heroin và vỏ bao gói mẫu giám định; 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A3 bên trong có vỏ bì niêm phong; 02 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh giấy màu trắng cần tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ.

[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo M phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[8] Về nguồn gốc số ma túy bị cáo M khai mua của một người đàn ông không quen biết tại khu vực chợ xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do M không biết họ, tên, tuổi, địa chỉ nên Cơ quan Điều tra không có cơ sở để xác minh, làm rõ.

[9] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc áp dụng hình phạt, xử lý vật chứng và về án phí đối với bị cáo là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ Điều 326 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Lưu Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Xử phạt bị cáo Lưu Văn M 30 (ba mươi) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam bị cáo là ngày 29/01/2024.

Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo cho công tác thi hành án.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu huỷ toàn bộ: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu A2 bên trong có 0,187gam (không phẩy một tám bẩy) gam Heroin và vỏ bao gói mẫu

giám định; 01 (một) bì niêm phong kí hiệu A3 bên trong có vỏ bì niêm phong; 02 mảnh giấy bạc màu vàng; 01 mảnh giấy màu trắng.

(Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ với Chi cục thi hành án dân sự huyện Định Hóa ngày 02/4/2024).

Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng các điều 135,136, 331,333 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Lưu Văn M phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung quỹ Nhà nước.

Án xử công khai sơ thẩm, có mặt bị cáo; báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - TAND Tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND huyện Định Hoá;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an huyện Định Hóa (2 bản);
  • - Chi cục THADS huyện Định Hóa;
  • - Bị cáo; THA hình sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Văn Kiểm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HSST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 11/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH HÓA, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lưu Văn Mạnh tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger