Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KRÔNG BÔNG

TỈNH ĐĂK LĂK

Bản án số: 11/2024/HSST

Ngày: 22/5/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trương Thị Huế

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Ngọc Minh và ông Phan Văn Hoè

Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Mạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Bông

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông tham gia phiên tòa:

Ông Lê Thanh Niềm - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Bông, tỉnh Đăk Lăk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2024/HSST- QĐ ngày 09/5/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Họ và tên: Nguyễn Thị Thuý C ; Tên gọi khác: Ti.

Giới tính: Nữ, sinh ngày 02/12/1975; Nơi sinh: tỉnh QN;

Nơi cư trú: Thôn A, xã HL, huyện KB, tỉnh Đắk Lắk;

Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 6/12;

Họ và tên cha: Nguyễn L (đã chết); Họ và tên mẹ: Lê Thị M (đã chết).

Bị cáo có chồng là Ngô Thành D, sinh năm 1973 (đã ly hôn); có ba người con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ nhất sinh năm 2000.

Tiền sự; Tiền án: Không.

Bị cáo Nguyễn Thị Thuý C bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 12/10/2023 đến nay. Hiện có mặt tại phiên tòa

  • Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  • - Bà Ngô Thị Tr, sinh năm: 2000 ( có mặt)

    Địa chỉ : Thôn A, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk

    - Bà Phan Thị Thu H, sinh năm 1984 ( có mặt)

    Địa chỉ: Thôn B, HP, KB, tỉnh Đắk Lắk

  • Người làm chứng:
  • - Ông Nguyễn Sỹ Th, sinh năm 1972 ( có mặt)

    Địa chỉ : Thôn A, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk

    - Ông Vũ Văn U, sinh năm 1986 ( có mặt)

    Địa chỉ : Thôn C, HL, KB, tỉnh Đắk Lắk

    - Ông Lâm Văn S, sinh năm 1978 ( vắng mặt)

    Địa chỉ: Xóm QT, TH, TN, Nam Định

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Thuý C kinh doanh dịch vụ ăn, uống tại quán “Châu Nguyễn” ở thôn A, xã HL, huyện KB, Đắk Lắk từ năm 2008 đến nay trên diện tích đất của Nguyễn Thị Thuý C ; năm 2019, Nguyễn Thị Thuý C xây dựng và kinh doanh thêm dịch vụ nhà nghỉ “Hương Rừng”, cùng địa chỉ trên. Trong quá trình kinh doanh dịch vụ ăn, uống, Nguyễn Thị Thuý C thường xuyên thu mua động vật hoang dã về để làm các món ăn bán cho khách có nhu cầu hoặc bán lại cho người khác kiếm lời.

Khoảng 14 giờ ngày 02/10/2023, khi Nguyễn Thị Thuý C đang ở thị trấn KK, huyện KB, Đắk Lắk thì chị Phan Thị Thu H (là người làm thuê cho Nguyễn Thị Thuý C ) gọi điện thoại nói cho Nguyễn Thị Thuý C biết việc có 01 người đàn ông (không rõ nhân thân lý lịch) đến quán “ Châu Nguyễn” bán 01 con rắn đang còn sống, Nguyễn Thị Thuý C hỏi là rắn gì thì chị Hiếu và người đàn ông này nói không biết nên Nguyễn Thị Thuý C nói không mua, nên người đàn ông này bỏ đi.

Đến khoảng 16 giờ 20 phút cùng ngày, người đàn ông này tiếp tục quay lại quán “Châu Nguyễn” của Nguyễn Thị Thuý C để bán con rắn, lúc này có chị Ngô Thị T (là con gái của Nguyễn Thị Thuý C ) đang ở đây, qua trao đổi thì chị T biết việc người đàn ông này đến để bán rắn nên chị Trang gọi điện thoại nói cho Nguyễn Thị Thuý C biết việc người đàn ông đem con rắn hồi chiều mang ra bán lại. Nghe vậy, Nguyễn Thị Thuý C nói với chị T là không biết rắn gì thì mua với giá 140.000 đồng/kg, được thì cứ mua đi, chị T trao đổi lại với người đàn ông này, sau đó đưa rắn vào cân thì có trọng lượng 1,2 kg nên chị T lấy tiền trong ngăn kéo ở quán của Nguyễn Thị Thuý C đưa cho người này 170.000 đồng; sau khi mua xong con rắn này thì chị H đưa vào để trong kho của quán “Châu Nguyễn”, lúc này con rắn đang được đựng trong bao xác rắn màu trắng đỏ.

Đến khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, Nguyễn Thị Thuý C đi về tới quán rồi kiểm tra thì phát hiện ra đây là loại rắn hổ chúa nhưng Nguyễn Thị Thuý C không nói cho chị T và chị H biết. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Nguyễn Thị Thuý C đem con Rắn hổ chúa từ kho ra phòng bếp của quán để sang qua túi lưới thì bị lực lượng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Đắk Lắk kiểm tra hành chính, phát hiện và lập biên bản. Kiểm tra tại khu đất phía sau nhà nghỉ Hương Rừng, phát hiện có 03 (ba) cá thể Cầy vòi hương còn sống đang được nhốt trong chuồng gỗ, 05 (năm) cá thể Kỳ đà vân còn sống đang được nhốt trong bể xây bằng gạch. Tại thời điểm kiểm tra, Nguyễn Thị Thuý C không xuất trình được giấy phép của cơ quan có thẩm quyền về việc nuôi nhốt động vật hoang dã, không có hồ sơ, tài liệu về nguồn gốc của số động vật nêu trên.

Tại Bản Kết luận giám định động vật số 1662/STTNVT ngày 05/10/2023 của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật thuộc Viện Hàn Lâm và Công nghệ Việt Nam xác định:

  • 01 (một) cá thể động vật là loài Rắn hổ chúa, có tên khoa học: Ophiophagus hannah, thuộc lớp Bò sát. Loài Rắn hổ chúa có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm; có tên trong Phụ lục I, danh mục loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; có tên trong Phụ lục II, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
  • 05 (năm) cá thể động vật là loài Kỳ đà vân, có tên khoa học: Varanus nebulosus, thuộc lớp Bò sát. Loài Kỳ đà vân có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm; có tên trong Phụ lục I, danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES).
  • 03 (ba) cá thể động vật là loài Cầy vòi hương, có tên khoa học: Paradoxurus hermaphroditus, thuộc lớp Thú. Loài Cầy vòi hương có tên trong nhóm IIB, danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm.

Tại Bản Kết luận định giá tài sản số 3501/KL-HĐĐG ngày 20/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh Đắk Lắk xác định:

  • 05 (năm) cá thể Kỳ đà vân, có tên khoa học: Varanus nebulosus, có giá trị là 2.590.000₫ (Hai triệu năm trăm chín mươi ngàn đồng).
  • 03 (ba) cá thể Cầy vòi hương, có tên khoa học: Paradoxurus hermaphroditus, có giá trị là 21.800.000₫ (Hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng).

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 11/KL-HĐ ngày 27/3/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Krông Bông xác định: Chiếc điện thoại hiệu VIVO Y33S, màu vàng, đã qua sử dụng có giá trị là 1.000.000₫ (Một triệu đồng).

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo Nguyễn Thị Thuý C cũng đã tự nguyện nộp vào quỹ bảo vệ động vật nguy cấp quý, hiếm số tiền 2.000.000 đồng

+ Đối với hành vi mua, nuôi và nhốt 03 (ba) cá thể Cầy vòi hương có tổng giá trị là 21.800.000đ (Hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng), có tên trong nhóm IIB, danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm của Nguyễn Thị Thuý C chưa đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quy định tại Điều 234 Bộ luật Hình sự và cũng không cấu thành tội phạm khác; do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện chuyển xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị Thuý C về hành vi nuôi, nhốt động vật rừng trái quy định của pháp luật được quy định tại khoản 13, Điều 21, Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ là phù hợp.

+ Đối với hành vi mua, nuôi và nhốt 05 (Năm) cá thể Kỳ đà vân có tên trong nhóm IB, danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm của Nguyễn Thị Thuý C có dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” quy định tại Điều 244 Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, số lượng cá thể Kỳ đà vân nói trên chưa đủ để truy cứu trách nhiệm hình sự, do đó chuyển xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị Thuý C về hành vi nuôi, nhốt động vật rừng trái quy định của pháp luật được quy định tại khoản 14, Điều 21, Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ là đúng quy định.

+ Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C khai nhận đã nhiều lần mua động vật hoang dã để bán, tuy nhiên bị cáo không nhớ số lượng, loài động vật gì và mua thời gian nào, ngoài lời khai của Nguyễn Thị Thuý C thì không có chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội có yếu tố định khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Đối với Phan Thị Thu H, quá trình điều tra xác định, chị H là người làm thuê cho Nguyễn Thị Thuý C, thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Châu Nguyễn”, mặc dù trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C nhưng chị Phan Thị Thu H không biết đó là rắn gì, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Phan Thị Thu H với vai trò đồng phạm.

+ Đối với Ngô Thị T, quá trình điều tra xác định, chị Ngô Thị T là con gái ruột của Nguyễn Thị Thuý C . Thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Châu Nguyễn”, thì Ngô Thị T trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C để hỏi giá mua, nhưng chị Ngô Thị T không biết đó là loại rắn gì và mục đích là mua giúp cho Nguyễn Thị Thuý C, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Ngô Thị T với vai trò đồng phạm.

+ Đối với người đàn ông bán con Rắn hổ chúa và những người bán các cá thể Cầy vòi hương, Kỳ đà vân nói trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ và ban hành thông báo truy tìm thông tin đối tượng, nhưng đến này chưa xác định được nên chưa có cơ sở để xử lý các đối tượng này.

- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:

+ Đối với 01 cá thể Rắn hổ chúa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã Quyết định xử lý vật chứng thả về môi trường tự nhiên tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin vào ngày 20/10/2023.

+ Đối với 05 cá thể Kỳ đà vân và 03 cá thể Cầy vòi hương, sau khi tạm giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã gửi tại Trung tâm bảo tồn Voi, cứu hộ động vật và quản lý bảo vệ rừng thuộc Sở nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Đắk Lắk. Ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng thả số động vật trên về môi trường tự nhiên.

+ Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y33S, kiểu máy V2109, gắn 01 sim điện thoại có số 0886.547.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Thuý C dùng để liên lạc mua rắn, là vật chứng của vụ án, do đó cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

+ Đối với 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, gắn 01 sim điện thoại số 0385.360.xxx (đã qua sử dụng) của Ngô Thị T. Đây là tài sản riêng của Trang và không phải là vật chứng của vụ án, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho chị Trang.

+ Đối với 01 Camera, nhãn hiệu EZVIZ C6N, màu trắng, có gắn 01 thẻ nhớ, nhãn hiệu SanDisk, 64Gb, màu trắng, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Thuý C . Đây là tài sản riêng của Nguyễn Thị Thuý C và không phải là vật chứng của vụ án, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra quyết định xử lý đồ vật, tài liệu trả lại cho Nguyễn Thị Thuý C

Ngày 21/5/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C đã tự nguyện nộp 2.000.000 đồng vào quỹ bảo vệ động vật hoang dã.

Quá trình điều tra, truy tố, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội, xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 23/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Bông đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thuý C về tội “ Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo khoản 1 Điều 244 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

- Bị cáo đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các chứng cứ, tài liệu đã được thu thập trong hồ sơ vụ án.

- Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thuý C phạm tội: “ Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm” theo điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thuý C từ 01 ( một) năm 06 ( sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 03 (ba) năm đến 04 (bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

+ Đối với hành vi mua, nuôi và nhốt 03 (ba) cá thể Cầy vòi hương có tổng giá trị là 21.800.000₫ (Hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng), có tên trong nhóm IIB và hành vi mua, nuôi và nhốt 05 (Năm) cá thể Kỳ đà vân có tên trong nhóm IB danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm của Nguyễn Thị Thuý C chưa đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quy định tại Điều 234 Bộ luật Hình sự và cũng không cấu thành tội phạm khác; Do vậy, Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện chuyển xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị Thuý C về hành vi nuôi, nhốt động vật rừng trái quy định của pháp luật được quy định tại khoản 13 và khoản 14, Điều 21, Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ.

+ Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C khai nhận đã nhiều lần mua động vật hoang dã để bán, tuy nhiên bị cáo không nhớ số lượng, loài động vật gì và mua thời gian nào, ngoài lời khai của Nguyễn Thị Thuý C thì không có chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội có yếu tố định khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Đối với Phan Thị Thu H, quá trình điều tra xác định, chị Phan Thị Thu H là người làm thuê cho Nguyễn Thị Thuý C, thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Châu Nguyễn”, mặc dù trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C nhưng chị Phan Thị Thu H không biết đó là rắn gì, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Phan Thị Thu H với vai trò đồng phạm.

+ Đối với Ngô Thị T, quá trình điều tra xác định, chị Ngô Thị T là con gái ruột của Nguyễn Thị Thuý C. Thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Châu Nguyễn”, thì Ngô Thị T trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C để hỏi giá mua, nhưng chị Ngô Thị T không biết đó là loại rắn gì và mục đích là mua giúp cho Nguyễn Thị Thuý C, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Ngô Thị T với vai trò đồng phạm.

+ Đối với người đàn ông bán con Rắn hổ chúa và những người bán các cá thể Cầy vòi hương, Kỳ đà vân nói trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ và ban hành thông báo truy tìm thông tin đối tượng, nhưng đến này chưa xác định được nên chưa có cơ sở để xử lý các đối tượng này.

Các biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 BLHS; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

+ Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã quyết định xử lý vật chứng thả về môi trường tự nhiên đối với 01 cá thể Rắn hổ chúa, 05 cá thể Kỳ đà vân và 03 cá thể Cầy vòi hương.

+ Tịch thu đấu giá sung ngân sách nhà nước 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y33S, kiểu máy V2109.

+ Tịch thu tiêu huỷ 01 sim điện thoại có số 0886.547.xxx, đã qua sử dụng của bị cáo dùng để phạm tội.

+ Đề nghị HĐXX chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, gắn 01 sim điện thoại số 0385.360.xxx (đã qua sử dụng) cho Ngô Thị T; trả lại 01 Camera, nhãn hiệu EZVIZ C6N, màu trắng, có gắn 01 thẻ nhớ, nhãn hiệu SanDisk, 64Gb, màu trắng, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Thuý C do xác định không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo.

Về án phí, đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm nộp án phí theo quy định của pháp luật

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tội danh: Do ý thức coi thường pháp luật và vì tư lợi cá nhân nên vào ngày 02/10/2023, Nguyễn Thị Thuý C đã mua và nhốt 01 (một) con rắn hổ chúa, có tên khoa học là Ophiophagus hannah, thuộc lớp Bò sát. Loài rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Nghị định 64/2019 NĐ – CP ngày 16/7/2019; có tên trong nhóm IIB, Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành theo Nghị định 84/2021/NĐ- CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; có tên trong phụ lục II, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp ( CITES), ban hành theo thông báo số 25/TB – CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.

Như vậy, đã có đủ cơ sở pháp lý để khẳng định, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Thuý C đã phạm vào tội : Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 244 Bộ luật Hình sự.

Điều 244 Bộ luật Hình sự quy định:

“1. Người nào vi phạm quy định về bảo vệ động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ hoặc Danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm Nhóm IB hoặc Phụ lục I Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 2.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Săn bắt, giết, nuôi, nhốt, vận chuyển, buôn bán trái phép động vật thuộc Danh mục loài nguy cấp, quý, hiếm được ưu tiên bảo vệ;

Xét về nhân thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo là người đã thành niên, khỏe mạnh có đủ năng lực và nhận thức để điều khiển hành vi của mình. Bị cáo cần phải biết rằng: Các loài động vật nguy cấp, quý, hiếm như rắn hổ chúa được pháp luật Việt Nam bảo vệ. Việc mua, bán, vận chuyển, nuôi nhốt loài động vật này là hành vi vi phạm pháp luật và phải xử lý nghiêm khắc để có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho toàn xã hội.

Tuy nhiên, xét về nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi của mình; Bị cáo cũng đã tự nguyện nộp số tiền 2.000.000 đồng vào quỹ bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm. Bị cáo có nhân thân tốt. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do vậy, HĐXX cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần trách nhiệm hình sự nhằm thể hiện chính sách khoan hồng nhân đạo của pháp luật nhà nước ta

Đối với hành vi mua, nuôi và nhốt 03 (ba) cá thể Cầy vòi hương có tổng giá trị là 21.800.000đ (Hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng), có tên trong nhóm IIB và hành vi mua, nuôi và nhốt 05 (Năm) cá thể Kỳ đà vân có tên trong nhóm IB danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm của Nguyễn Thị Thuý C chưa đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quy định tại Điều 234 Bộ luật Hình sự và cũng không cấu thành tội phạm khác; Do vậy, cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện chuyển xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị Thuý C về hành vi nuôi, nhốt động vật rừng trái quy định của pháp luật được quy định tại khoản 13 và khoản 14, Điều 21, Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ.

Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C khai nhận đã nhiều lần mua động vật hoang dã để bán, tuy nhiên bị cáo không nhớ số lượng, loài động vật gì và mua thời gian nào, ngoài lời khai của Nguyễn Thị Thuý C thì không có chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội có yếu tố định khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Đối với Phan Thị Thu H, quá trình điều tra xác định, chị Hiếu là người làm thuê cho Nguyễn Thị Thuý C, thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Châu Nguyễn”, mặc dù trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C nhưng chị Phan Thị Thu H không biết đó là rắn gì, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Phan Thị Thu H với vai trò đồng phạm.

Đối với Ngô Thị T, quá trình điều tra xác định, chị Ngô Thị T là con gái ruột của Nguyễn Thị Thuý C . Thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Nguyễn Thị Thuý Ch”, thì Ngô Thị T trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C để hỏi giá mua, nhưng chị Ngô Thị T không biết đó là loại rắn gì và mục đích là mua giúp cho Nguyễn Thị Thuý C, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Ngô Thị T với vai trò đồng phạm.

+ Đối với người đàn ông bán con Rắn hổ chúa và những người bán các cá thể Cầy vòi hương, Kỳ đà vân nói trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ và ban hành thông báo truy tìm thông tin đối tượng, nhưng đến này chưa xác định được nên chưa có cơ sở để xử lý các đối tượng này.

[3] Các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Cần chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk đã xử lý vật chứng, cụ thể như sau :

  • Vào ngày 20/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã Quyết định xử lý vật chứng thả về môi trường tự nhiên tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin 01 cá thể Rắn hổ chúa.
  • Vào ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng thả 05 cá thể Kỳ đà vân và 03 cá thể Cầy vòi hương về môi trường tự nhiên.
  • Ngày 06/3/2024, trả cho chị Ngô Thị T là chủ sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, gắn 01 sim điện thoại số 0385.360.xxx (đã qua sử dụng) do đây là tài sản riêng của chị Ngô Thị T và không phải vật chứng của vụ án.
  • Ngày 06/3/2024, trả lại cho Nguyễn Thị Thuý C 01 Camera, nhãn hiệu EZVIZ C6N, màu trắng, có gắn 01 thẻ nhớ, nhãn hiệu SanDisk, 64Gb, màu trắng, đã qua sử dụng vì đây là tài sản riêng của Nguyễn Thị Thuý C và không phải là vật chứng của vụ án.

Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y33S, kiểu máy V2109, gắn 01 sim điện thoại có số 0886.547.xxx, đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Thuý C dùng để liên lạc mua rắn, là vật chứng của vụ án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu trách nhiệm nộp toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật là 200.000 đồng.

Xét đề nghị Kiểm sát viên là phù hợp với quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố:

1. Về tội phạm và hình phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thuý C phạm tội : Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm,

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 244; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và khoản 1 Điều 65 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Thuý C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho chính quyền địa phương Uỷ ban nhân dân xã HL, KB, Đăk Lăk giám sát, giáo dục. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương giám sát, giáo dục bị cáo

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo Điều 56 Bộ luật Hình sự.

+ Đối với hành vi mua, nuôi và nhốt 03 (ba) cá thể Cầy vòi hương có tổng giá trị là 21.800.000đ (Hai mươi mốt triệu tám trăm ngàn đồng), có tên trong nhóm IIB và hành vi mua, nuôi và nhốt 05 (Năm) cá thể Kỳ đà vân có tên trong nhóm IB danh mục thực vật rừng, động vật nguy cấp, quý hiếm của Nguyễn Thị Thuý C chưa đủ yếu tố cấu thành tội Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quy định tại Điều 234 Bộ luật Hình sự và cũng không cấu thành tội phạm khác; Do vậy, chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện chuyển xử lý hành chính đối với Nguyễn Thị Thuý C về hành vi nuôi, nhốt động vật rừng trái quy định của pháp luật được quy định tại khoản 13 và khoản 14, Điều 21, Nghị định 35/2019/NĐ-CP ngày 25/4/2019 của Chính phủ.

+ Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Thị Thuý C khai nhận đã nhiều lần mua động vật hoang dã để bán, tuy nhiên bị cáo không nhớ số lượng, loài động vật gì và mua thời gian nào, ngoài lời khai của Nguyễn Thị Thuý C thì không có chứng cứ khác để chứng minh nên không đủ cơ sở để xác định bị cáo phạm tội có yếu tố định khung hình phạt hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

+ Đối với Phan Thị Thu H, quá trình điều tra xác định, chị Hiếu là người làm thuê cho Nguyễn Thị Thuý C, thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Châu Nguyễn”, mặc dù trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C nhưng chị Phan Thị Thu H không biết đó là rắn gì, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Phan Thị Thu H với vai trò đồng phạm.

+ Đối với Ngô Thị T, quá trình điều tra xác định, chị Ngô Thị T là con gái ruột của Nguyễn Thị Thuý C. Thời điểm người đàn ông mang con Rắn hổ chúa đến bán tại quán “Châu Nguyễn”, thì Ngô Thị T trực tiếp nói chuyện với người bán và gọi điện thoại cho Nguyễn Thị Thuý C để hỏi giá mua, nhưng chị Ngô Thị T không biết đó là loại rắn gì và mục đích là mua giúp cho Nguyễn Thị Thuý C, do đó không đủ căn cứ để xử lý đối với Ngô Thị T với vai trò đồng phạm.

+ Đối với người đàn ông bán con Rắn hổ chúa và những người bán các cá thể Cầy vòi hương, Kỳ đà vân nói trên, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra thu thập tài liệu, chứng cứ và ban hành thông báo truy tìm thông tin đối tượng, nhưng đến này chưa xác định được nên chưa có cơ sở để xử lý các đối tượng này.

2. Vật chứng của vụ án thu được: Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận việc Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an huyện Krông Bông, tỉnh Đắk Lắk đã xử lý vật chứng, cụ thể như sau :

  • Vào ngày 20/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đắk Lắk đã Quyết định xử lý vật chứng thả về môi trường tự nhiên tại Vườn quốc gia Chư Yang Sin 01 cá thể Rắn hổ chúa.
  • Vào ngày 28/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã xử lý vật chứng thả 05 cá thể Kỳ đà vân và 03 cá thể Cầy vòi hương về môi trường tự nhiên.
  • Vào 06/3/2024, trả cho chị Ngô Thị T là chủ sử dụng điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 11 Pro, màu đen, gắn 01 sim điện thoại số 0385.360.xxx (đã qua sử dụng) do đây là tài sản riêng của chị Ngô Thị T và không phải vật chứng của vụ án.
  • Vào ngày 6/3/2024, trả lại cho Nguyễn Thị Thuý C 01 Camera, nhãn hiệu EZVIZ C6N, màu trắng, có gắn 01 thẻ nhớ, nhãn hiệu SanDisk, 64Gb, màu trắng, đã qua sử dụng vì đây là tài sản riêng của Nguyễn Thị Thuý C và không phải là vật chứng của vụ án.

Tịch thu sung ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO Y33S, kiểu máy V2109 đã qua sử dụng của Nguyễn Thị Thuý C dùng để liên lạc mua rắn, là vật chứng của vụ án.

Tịch thu, tiêu huỷ: 01 sim điện thoại có số 0886.547.xxx, đã qua sử dụng của bị cáo dung để phạm tội.

3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Thuý C phải nộp 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ Giám đốc kiểm tra I – TAND Tối cao
  • - TAND tỉnh
  • - VKSND huyện
  • - Sở Tư pháp
  • - Phòng PV 06- CA Đắk Lắk
  • - Cơ quan Điều tra Công an huyện
  • - THA HS
  • - Chi cục THA DS
  • - Bị cáo
  • - Lưu hồ sơ.

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Trương Thị Huế

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HSST ngày 22/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK về hình sự sơ thẩm về vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm

  • Số bản án: 11/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về Vi phạm quy định về bảo vệ động vật nguy cấp, quý, hiếm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG BÔNG, TỈNH ĐĂK LĂK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Do ý thức coi thường pháp luật và vì tư lợi cá nhân nên vào ngày 02/10/2023, Nguyễn Thị Thuý C đã mua và nhốt 01 ( một) con rắn hổ chúa, có tên khoa học là Ophiophagus hannah, thuộc lớp Bò sát. Loài rắn hổ chúa có tên trong Phụ lục I, Nghị định 64/2019 NĐ – CP ngày 16/7/2019; có tên trong nhóm IIB, Danh mục thực vật, động vật rừng nguy cấp, quý, hiếm ban hành theo Nghị định 84/2021/NĐ- CP ngày 22/9/2021 của Chính phủ; có tên trong phụ lục II, Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã thuộc Phụ lục Công ước về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp ( CITES), ban hành theo thông báo số 25/TB – CTVN ngày 17/02/2023 của Cơ quan quản lý CITES Việt Nam.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger