|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN TỈNH NINH BÌNH Bản án số: 11/2024/ HNGĐ-ST Ngày 21/8/2024. V/v: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung khi ly hôn”. |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lã Hoàng Giáp
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hà Xuân Ninh.
Ông Hoàng Quốc Trị.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký viên Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 57/2024/TLST- HNGĐ, ngày 23 tháng 5 năm 2024 về việc: “Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2024/QĐXXST- HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: chị Đỗ Thị Thúy M, sinh năm 1982; Nơi cư trú: xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
Bị đơn: anh Nguyễn Thành Đ, sinh năm 1975; Nơi cư trú: xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
Người làm chứng: ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1955; Nơi cư trú: xóm Đ, đường D, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình.
Chị M có mặt tại phiên tòa, anh Đ vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt. Người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 21 tháng 5 năm 2024 và bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Đỗ Thị Thúy M trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: chị và anh Nguyễn Thành Đ được tự do tìm hiểu và tự nguyện đi đến kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã G, huyện G vào ngày 25/3/2005. Sau khi kết hôn vợ chồng chị chung sống với nhau tại xóm Đ, xã G, huyện G. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra va chạm to tiếng với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách khắc phục mâu thuẫn với nhau nhưng vẫn không có kết quả. Đến khoảng năm 2011, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, vợ chồng sống không còn thương yêu, tôn trọng nhau nữa và đã sống gần như ly thân với nhau kể từ năm 2011 cho đến nay. Hiện nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng không thể khắc phục được nên chị đề nghị Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn giải quyết được ly hôn với anh Nguyễn Thành Đ.
Về con chung: chị M và anh Đ có hai con chung là cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L, sinh ngày 01/4/2007 và cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 20/10/2012, hiện cả hai con đang ở cùng với chị M. Khi ly hôn chị M đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu anh Đ phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cùng với chị.
Về tài sản và công nợ chung: chị M không đề nghị Tòa án xem xét.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Nguyễn Thành Đ.
* Tại đơn đề nghị giải quyết vắng mặt ghi ngày 10/7/2024 của anh Nguyễn Thành Đ gửi Tòa án, anh Đ xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị Đỗ Thị Thúy M đã thực sự trầm trọng, không thể khắc phục được, tình cảm vợ chồng không còn nên anh đồng ý ly hôn với chị M.
Về con chung: anh Đ xác nhận anh và chị M có hai con chung là cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L, sinh ngày 01/4/2007 và cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 20/10/2012, hiện các cháu cũng đã lớn và nhận thức được cuộc sống nên nguyện vọng các cháu muốn được ở với ai anh cũng đồng ý. Về tài sản và công nợ chung anh cùng chị M đều không đề nghị Tòa án giải quyết. Do thường xuyên đi làm xa, rất bận nên anh Nguyễn Thành Đ đề nghị Tòa án cho anh được vắng mặt tại các buổi làm việc, công khai chứng cứ, hòa giải và đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt đối với anh.
* Tại bản tự khai ngày 19/6/2024 của ông Nguyễn Văn S là bố đẻ của anh Nguyễn Thành Đ, bố chồng chị Đỗ Thị Thúy M xác nhận quá trình tìm hiểu, kết hôn, chung sống vợ chồng cũng như mâu thuẫn của chị M và anh Đ đúng như nội dung mà chị M đã trình bày trong đơn khởi kiện; xác nhận anh Đ, chị M có hai con chung là cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L, sinh ngày 01/4/2007 và cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 20/10/2012, hiện các cháu đang ở với chị M.
Tại phiên tòa có mặt chị Đỗ Thị Thúy M, anh Nguyễn Thành Đ có đơn xin đề nghị xét xử vắng mặt; vắng mặt người làm chứng Nguyễn Văn S.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét toàn diện ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đỗ Thị Thúy M khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn là anh Nguyễn Thành Đ có nơi cư trú tại: xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Quá trình tố tụng, vụ việc được chuyển sang thủ tục hòa giải đối thoại tại Tòa án, tuy nhiên việc hòa giải, đối thoại đã chấm dứt theo khoản 3 Điều 40 Luật Hòa giải Đối thoại tại Tòa án. Căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.
Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng theo đúng quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 172; khoản 3, khoản 5 Điều 177 của Bộ luật tố tụng dân sự cho anh Nguyễn Thành Đ. Anh Nguyễn Thành Đ có đơn đề nghị được vắng mặt tại các buổi làm việc và phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, và tại phiên tòa; đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt anh, nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt anh Đ theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về quan hệ hôn nhân:
Chị Đỗ Thị Thúy M và anh Nguyễn Thành Đ được tự do tìm hiểu, tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn ngày 25/3/2005 tại UBND xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. Việc kết hôn của chị M, anh Đ đảm bảo các quy định về điều kiện kết hôn, không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của pháp luật. Như vậy quan hệ hôn nhân của chị Đỗ Thị Thúy M và anh Nguyễn Thành Đ là hợp pháp.
Căn cứ trình bày của các đương sự, của người làm chứng tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trình bày của chị M tại phiên tòa xác định quá trình chung sống chị M và anh Đ chung sống hạnh phúc một thời gian, thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân vợ chồng tính tình không hợp nhau, bất đồng trong quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra va chạm to tiếng với nhau. Vợ chồng đã nhiều lần tìm cách khắc phục mâu thuẫn với nhau nhưng vẫn không có kết quả. Đến khoảng năm 2011, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, vợ chồng sống không còn thương yêu, tôn trọng nhau nữa và đã sống gần như ly thân với nhau kể từ năm 2011 cho đến nay. Mâu thuẫn của chị M với anh Đ được bản thân anh Đ trực tiếp thừa nhận trong văn bản gửi cho Tòa án.
Do vậy Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định mâu thuẫn giữa vợ chồng chị chị Đỗ Thị Thúy M với anh Nguyễn Thành Đ đã trở nên trầm trọng, không thể tiếp tục duy trì cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị Thúy M.
[3]. Về con chung: Trên cơ sở trình bày của các đương sự và người làm chứng, các tài liệu chứng cứ, xác định chị M và anh Đ có hai con chung là cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L, sinh ngày 01/4/2007 và cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 20/10/2012. Quá trình giải quyết vụ án, chị M đề nghị Tòa án cho chị được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục cả hai con, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng. Tại văn bản gửi Tòa án, anh Đ xác định do các con đã lớn nên nếu các cháu muốn ở với ai anh cũng đồng ý. Tại văn bản ghi ý kiến của cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L và cháu Nguyễn Quang M1 đều xác nhận muốn ở với mẹ.
Xét thấy bản thân chị M không vi phạm nghĩa vụ làm mẹ đối với con của mình là người có đủ điều kiện sức khỏe, có khả năng tạo ra thu nhập và các điều kiện khác đảm bảo cho việc nuôi dạy con chung; chị M cũng đang chăm sóc cho các cháu rất tốt, đảm bảo các điều kiện cho các cháu học tập và phát triển. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình, để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các cháu cần giao cho chị Đỗ Thị Thúy M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L và cháu Nguyễn Quang M1 là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật, cần chấp nhận.
Về cấp dưỡng cho con: chị M tự xác định đủ điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con, không yêu cầu anh Đ phải cấp dưỡng cho con; Hội đồng xét xử xét thấy đây là ý chí tự nguyện của chị M, cần được chấp nhận.
[4] Về tài sản và công nợ chung: Tại văn bản gửi Tòa án, chị M, anh Đ cùng xác định không đề nghị Tòa án giải quyết. Tại phiên Tòa chị M giữ nguyên quan điểm không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ chung.
[5] Về án phí: Chị Đỗ Thị Thúy M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn theo quy định của pháp luật.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị Thúy M.
- Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Đỗ Thị Thúy M được ly hôn với anh Nguyễn Thành Đ.
- Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị Thúy M trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu Nguyễn Đỗ Ngọc L, sinh ngày 01/4/2007 và cháu Nguyễn Quang M1, sinh ngày 20/10/2012 cho đến khi các cháu đủ 18 tuổi.
- Về cấp dưỡng cho con: anh Nguyễn Thành Đ không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho chị Đỗ Thị Thúy M.
- Về tài sản chung, công nợ chung: chị Đỗ Thị Thúy M và anh Nguyễn Thành Đ không đề nghị Tòa án giải quyết; do vậy Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị Thúy M phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân huyện Gia Viễn theo biên lai số 0000973 ngày 23/5/2024.
Cha mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; cha mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Án xử công khai sơ thẩm, nguyên đơn có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 21/8/2024. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao Bản án hoặc Bản án được niêm yết.
Áp dụng Điều 26 Luật thi hành án dân sự: “Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự”.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lã Hoàng Giáp |
Bản án số 11/2024/ HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Số bản án: 11/2024/ HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận YCKK
