Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHONG ĐIỀN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 11/2024/HS-ST

Ngày 21 - 5 – 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đạt.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng;

Ông Lê Đình Hoà.

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Phương Loan, Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Điền.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Dư Thắng và ông Trần Văn T, Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 13/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Trần Thị B (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 10/10/1984. Tại: tỉnh Thừa Thiên Huế; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Trần Bá Â (đã chết) và bà: Hồ Thị L, sinh năm: 1950; trú tại: tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Gia đình có 04 anh chị em ruột, bị cáo là con út; Hoàn cảnh gia đình: Có chồng: Hồ Ngọc P, sinh năm: 1983; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2006, nhỏ nhất sinh năm: 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình nhân thân: Sinh ra lớn lên ở xã Đ huyện P, học đến lớp 12/12 thì nghỉ học sau đó lập gia đình chuyển đến sinh sống tại thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cho đến ngày phạm tội; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 31/12/2023 đến ngày 08/01/2024. Sau đó khởi tố chuyển tạm giam cho đến ngày 30/01/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” cho đến nay (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà).

2. Họ và tên: Hồ Ngọc P (Tên gọi khác: Không), sinh ngày: 14/3/1983. Tại: tỉnh Quảng Trị; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông: Hồ C (đã chết) và bà: Phan Thị T1, sinh năm: 1954. Trú tại: thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Gia đình có 06 anh chị em ruột, bị can là con thứ tư; Hoàn cảnh gia đình: Vợ: Trần Thị B, sinh năm: 1984; Có 03 người con, lớn nhất sinh năm: 2006, nhỏ nhất sinh năm: 2018; Tiền án, tiền sự: Không; Quá trình nhân thân: Sinh ra lớn lên ở xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị, học đến lớp 12/12 thì nghỉ học sau đó lập gia đình chuyển đến sinh sống tại thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế cho đến ngày phạm tội; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ từ ngày 31/12/2023 đến ngày 08/01/2024 được hủy bỏ Quyết định tạm giữ (Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

  1. 1.Chị Hoàng Thị Ngọc L1, sinh năm 1984; địa chỉ: thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  2. 2.Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  3. 3.Anh Trần Văn T2, sinh năm 1988; địa chỉ: thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  4. 4.Chị Phan Thị Như Ý, sinh năm 1986; địa chỉ: tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  5. 5.Chị Hồ Thị T3, sinh năm 1984, địa chỉ: thôn N, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  6. 6.Chị Trần Thị L2, sinh năm 1978; địa chỉ: Thôn U, T, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  7. 7. Anh Đồng Hữu H, sinh năm 1988; địa chỉ: tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  8. 8.Chị Nguyễn Thị Hồng H1, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  9. 9.Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1993; địa chỉ: thôn M, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (có đơn xin vắng mặt).
  10. 10.Chị Lê Thị L3, sinh năm 1990; địa chỉ: Thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  11. 11.Anh Nguyễn Đình H3, sinh năm 1990; địa chỉ: tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  12. 12. Anh Trương Duy Tấn D, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  13. 13.Chị Nguyễn Thị T4, sinh năm 1980;Thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  14. 14.Anh Trần Đăng N1, sinh năm 1999; địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  15. 15.Chị Lê Thị H4, sinh năm 1977; địa chỉ:Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  16. 16.Chị Nguyễn Thị N2, sinh năm 1996; địa chỉ: thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị (có đơn xin vắng mặt).
  17. 17. Anh Trương Duy N3, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  18. 18. Anh Hoàng Đức P1, sinh năm 1983; địa chỉ: tổ D, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  19. 19.Chị Bùi Thị T5, sinh năm 1983; địa chỉ: thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  20. 20.Anh Nguyễn Đăng T6, sinh năm 1994; địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  21. 21.Chị Nguyễn Thị Thu T7, sinh năm 1978; địa chỉ:Thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).
  22. 22. Chị Trần Thị V, sinh năm 1964; địa chỉ: tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế (có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do nắm bắt được nhu cầu cần vay vốn nhanh của một số người sinh sống trên địa bàn huyện P, từ tháng 01 năm 2020 Trần Thị B và chồng là Hồ Ngọc P đã cùng bàn bạc, thống nhất sử dụng số tiền của 02 vợ chồng cho người khác vay với lãi suất cao, nhằm mục đích thu lời bất chính để tiêu xài cá nhân. Người nào có nhu cầu vay thì có thể đến gặp trực tiếp hoặc liên lạc qua điện thoại với B hoặc P để trao đổi thống nhất về số tiền và lãi suất vay. Trần Thị B và Hồ Ngọc P cho vay thu lãi theo hình thức cho vay đứng, nghĩa là người vay và B, P thỏa thuận cho vay một số tiền nhất định nhưng khi nhận tiền sẽ cắt lãi trước, chu kỳ 01 tháng trả lãi một lần. Lãi suất cho vay được tính theo tháng với lãi suất 9,46%/tháng đến 20%/tháng (tương đương 113,56%/năm đến 243,33%/năm) trên mỗi lần vay. Mỗi tháng người vay trả lãi và gốc một lần, nếu đến tháng trả nợ mà người vay chưa trả được tiền gốc thì tiền gốc sẽ được tính lãi sang tháng tiếp theo.

Tùy theo mức độ quen thân giữa người vay với B, P nên có người khi cho vay tiền vợ chồng B không giữ giấy tờ gì nhưng có người khi cho vay tiền phải để lại giấy tờ như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, sổ bảo hiểm xã hội. Trong quá trình cho vay, Trần Thị B, Hồ Ngọc P sử dụng một cuốn vở ô ly để ghi tên của người vay số tiền vay và quá trình trả lãi.

Theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự: “…trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay..”, theo đó, cách tính lãi xuất ngân hàng và số tiền thu lợi bất chính được tính như sau:

- Lãi suất năm = (số tiền phải trả - số tiền thực vay) x 365 x100

(Số ngày vay) x (số tiền thực vay)

- Thu lợi bất chính = Tổng lãi thu - 20% x (Tiền vay) x (Tổng số ngày vay)

365

Quá trình điều tra xác định, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2023, vợ chồng Trần Thị B, Hồ Ngọc P đã cho 22 người với 40 lượt vay với mức lãi suất từ 113,56%/năm đến 243,33%/năm (gấp 5,67 đến 12,16 lần) mức lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật được quy định tại khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự), cụ thể:

1. Tháng 07 năm 2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Trương Duy N3 (sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Ngày 08/7/2023, anh N3 vay số tiền là 10.000.000 đồng, lãi suất 1.500.000đồng/01 tháng, tương đương với lãi suất 182,5%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu của anh N3 01 tháng tiền lãi là 1.500.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng.

Lần 2: Ngày 24/7/2023, anh N3 vay số tiền là 10.000.000 đồng, lãi suất 1.500.000đồng/01 tháng, tương đương với lãi suất 182,5%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu của anh N3 02 tháng tiền lãi là 3.000.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính là 2.671.000 đồng. Anh N3 đã trả được 10.500.000 đồng tiền gốc, còn lại 9.500.000 đồng tiền gốc anh N3 chưa trả.

2. Vào khoảng cuối năm 2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Trương Duy Tấn D (sinh năm 1997, trú tại tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 01 lần số tiền 5.000.000 đồng, lãi suất 500.000 đồng/01 tháng, tương đương với 121,67%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu của anh D 01 tháng tiền lãi là 500.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính là 418.000 đồng. Anh D1 đã trả xong 5.000.000đ tiền gốc.

3. Vào khoảng tháng 01 năm 2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Trần Thị L2 (sinh năm 1978, trú tại thị trấn S, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 03 lần, cụ thể:

Lần 1: Tháng 1/2022, chị L2 vay số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 2.025.000 đồng/tháng, tương đương 164,25%/năm. Quá trình cho vay, B và P đã thu 20 tháng tiền lãi với tổng số tiền 40.500.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính 35.568.000 đồng. Chị L2 vẫn còn nợ 15.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 4/2023, chị L2 tiếp tục vay thêm số tiền 25.000.000 đồng với lãi suất 3.750.000 đồng/tháng, tương đương 182,5%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu 04 tháng tiền lãi với tổng số tiền 15.000.000 đồng, trong đó thu lợi bất chính với số tiền là 13.356.000 đồng. Chị L2 vẫn còn nợ tiền gốc 25.000.000 đồng.

Lần 3: Đến tháng 06/2023, chị L2 tiếp tục vay thêm số tiền 15.000.000 đồng với lãi suất 2.250.000 đồng/01 tháng, tương đương 182,5%/01 năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu 02 tháng tiền lãi là 4.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 4.007.000 đồng. Chị L2 vẫn còn nợ tiền gốc 15.000.000 đồng.

4. Vào khoảng tháng 6 năm 2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Nguyễn Đình H3 (sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 01 lần số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 2.000.000 đồng/01 tháng, tương đương với 121,67%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu của anh H3 đã 01 tháng tiền lãi là 2.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất 1.671.000 đồng. Anh H3 đã trả 20.000.000 đồng tiền gốc.

5. Vào khoảng tháng 3 năm 2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Đồng Hữu H (sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố V, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 03 lần, cụ thể:

Lần 1. Tháng 03/2022, anh H vay 03 lượt với tổng số tiền 20.000.000 đồng với lãi suất là 2.000.000 đồng/01 tháng, tương đương 121,67%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu 01 tháng tiền lãi với số tiền 2.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lời bất chính là 1.671.000 đồng. Anh H đã trả hết 20.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 4/2022, anh H vay của B, P 04 lượt với tổng số tiền là 25.000.000 đồng, lãi suất 3.500.000đồng/01 tháng, tương đương 170,33%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu của anh H 01 tháng tiền lãi với số tiền 3.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 3.089.000 đồng. Anh H đã trả hết 25.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 3. Tháng 05/2022, anh H vay 03 lượt với tổng số tiền là 16.000.000 đồng, lãi suất 2.500.000 đồng/01 tháng, tương đương 190%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của anh H 02 tháng tiền lãi với số tiền 5.000.000 đồng, trong đóv số tiền thu lợi bất chính là 4.474.000. Anh H đã trả hết tiền gốc.

6. Tháng 10 năm 2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Lê Thị L3 (sinh năm 1990, trú tại thôn L, xã Q, huyện Q, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 02 lần cụ thể:

Lần 1, Khoảng cuối tháng 10/2023, chị L3 vay 11.000.000 đồng, lãi suất 1.100.000 đồng/01 tháng. Tương đương với lãi suất 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị L3 01 tháng tiền lãi với số tiền 1.100.000 đồng tiền lãi, trong đó số tiền thu lợi bất chính 919.000 đồng. Chị L3 đã trả 5.500.000 đồng tiền gốc, còn lại 5.500.000 đồng tiền gốc chưa trả.

Lần 2. Đến tháng 11/2023 chị L3 vay thêm 2.500.000 đồng, tổng cộng tiền vay là 8.000.000 đồng, lãi suất 800.000 đồng/tháng tương đương với 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị L3 800.000 đồng tiền lãi, trong đó số tiền thu lợi bất chính 668.000 đồng. Hiện chị L3 còn nợ vợ chồng B 8.000.000 đồng tiền gốc chưa trả.

7. Tháng 7/2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 (sinh năm 1977, trú thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Chị H1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.000.000 đồng/tháng, tương đương với 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị H1 đã trả 04 tháng tiền lãi với số tiền 4.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lời bất chính là 3.342.000 đồng. Chị H1 đã trả 10.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 8 năm 2023 Chị H1 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.500.000 đồng/tháng, tương đương với 182,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị H1 đã trả 04 tháng tiền lãi với số tiền 6.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lời bất chính là 5.342.000 đồng. Chị H1 đã trả 10.000.000 đồng tiền gốc.

8. Từ tháng 3/2023 đến tháng 6/2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Nguyễn Thị H2 (sinh năm 1993, trú tại thôn B, xã T, huyện G, tỉnh Quảng Trị) vay 03 lần, cụ thể:

Lần1: Chị H2 vay 10.000.000 đồng, lãi suất 1.500.000 đồng/01 tháng, tướng đương 182,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị H2 đã trả 01 tháng tiền lãi là 1.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng. Chị H2 đã trả 10.000.000 tiền gốc.

Lần 2: Tháng 5/2023, chị H2 vay 5.000.000 đồng với lãi suất 750.000 đồng/01 tháng, tương đương với 182,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị H2 đã trả 02 tháng tiền lãi 1.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng. Chị H2 đã trả 5.000.000 tiền gốc.

Lần 3: Tháng 6/2023, chị H2 vay 12.000.000 đồng, lãi suất 1.800.000/tháng, tương đương 182,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị H2 01 tháng tiền lãi là 1.800.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính với số tiền 1.603.000 đồng. Hiện chị H2 còn nợ 12.000.000 đồng tiền gốc chưa trả.

9. Tháng 4/2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P chị Nguyễn Thị T4 (sinh năm 1980, trú tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 03 lần, cụ thể:

Lần 1: Tháng 4/2023, chị T4 vay 5.000.000 đồng, lãi suất 660.000 đồng/tháng, tương đương 160,6%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị T4 05 tháng tiền lãi với số tiền 3.300.000 đông, trong đó số tiền thu lợi bất chính 2.889.000 đồng. Chị T4 đã trả 5.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 8 năm 2023, chị T4 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.500.000 đồng/tháng, tương đương 182,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị T4 01 tháng tiền lãi với số tiền 1.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng. Chị T4 đã trả 10.000.000 tiền gốc.

Lần 3: Tháng 9 năm 2023, chị T4 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.500.000 đồng/tháng, tương đương 182,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị T4 01 tháng tiền lãi với số tiền 1.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 1.336.000 đồng. Chị T4 đã trả 10.000.000 tiền gốc.

10. Từ tháng 6/2022 đến tháng 5/2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Trần Đăng N1 (sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) đã nhiều lần vay tiền của vợ chồng B, cụ thể:

Lần 1: Tháng 6/2022, anh N1 vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 4.000.000 đồng/01 tháng, tương đương 243,33%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của anh N1 03 tháng tiền lãi với số tiền là 12.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 11.013.600 đồng. Anh N1 đã trả 20.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 10/2022, anh Trần Đăng N1 vay số tiền 20.000.000 đồng, với lãi suất 3.600.000 đồng/01tháng, tương đương với 243,33%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của anh N1 07 tháng tiền lãi là 28.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 25.698.400 đồng. Anh N1 đã trả đủ 20.000.000 tiền gốc.

Lần 3: Tháng 9/2023, anh Trần Đăng N1 vay số tiền 18.000.000 đồng, với lãi suất 3.600.000 đồng/01tháng, tương đương với 243,33%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của anh N1 02 tháng tiền lãi là 7.200.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 6.608.000 đồng. Anh N1 vẫn còn nợ 18.000.000 đồng tiền gốc.

11. Từ tháng 02/2020 đến 7/2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Nguyễn Thị N (sinh năm 1989, trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Tháng 02/2020, chị N vay số tiền 20.000.000 đồng, lãi suất 2.000.000 đồng/01 tháng, tương đương với lãi suất 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị N vay 04 tháng tiền lãi với số tiền 8.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 6.685.000 đồng. Chị N đã trả 20.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 7 năm 2023, chị N tiếp tục vay 3.000.000 đồng, lãi suất 300.000 đồng/tháng tương đương với lãi suất 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của của chị N 03 tháng tiền lãi với số tiền 900.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính là 752.000 đồng. Chị N đã trả 3.000.000 đồng tiền gốc. (Bút lục số 397 – 406).

12. Tháng 7/2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Lê Thị H4 (sinh năm 1977, trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Tháng 7/2022, chị H4 vay số tiền 6.000.000 đồng, với lãi suất 600.000 đồng/01 tháng, tương đương với 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị H4 01 tháng tiền là 600.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 501.000 đồng. Chị H4 chưa trả 6.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 8/2022, chị H4 tiếp tục vay thêm 6.000.000 tiền gốc, tổng cộng tiền vay là 12.000.000 đồng, lãi suất 1.200.000 đồng/tháng tương đương 121,67%. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị H4 12 tháng tiền lãi với tổng số tiền 14.400.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 12.033.000 đồng. Chị H4 còn nợ 12.000.000 đồng tiền gốc chưa trả. (bút lục 407 – 414).

13. Tháng 02/2021, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Hồ Thị T3 (sinh năm 1984, trú tại thôn N, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Tháng 02/2021, chị T3 vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.000.000 đồng/01 tháng, tương đương 121,67%/01 năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị T3 04 tháng tiền lãi là 4.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 3.342.000 đồng. Chị T3 đã trả 10.000.000 đồng tiền gốc.

Lần 2: Tháng 9 năm 2022, chị T3 tiếp tục vay số tiền 16.000.000 đồng với lãi suất 1.600.000/tháng tương đương 121,67%. Quá trình cho vay, thấy chị T3 khó khăn nên B, P không thu tiền lãi. Chị T3 đã trả đủ số tiền 16.000.000 đồng tiền gốc. (bút lục số 415 – 421).

14. Từ tháng 02/2023 đến tháng 4/2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Nguyễn Thị N2 (sinh năm 1996, trú tại thôn P, xã H, huyện H, tỉnh Quảng Trị) vay 02 lần, cụ thể:

Lần 01: Tháng 2/2023 chị N2 vay số tiền 4.600.000 đồng, lãi suất 460.000đồng/01 tháng, tương đương 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị N2 01 tháng tiền lãi là 460.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 384.383 đồng. Chị N2 đã trả đủ 4.600.000 đồng tiền gốc.

Lần 02: Tháng 4/2023, chị N2 tiếp tục vay 5.700.000 đồng, lãi suất 600.000 đồng/01 tháng, tương đương 128,07%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị N2 03 tháng tiền lãi là 1.800.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 1.519.000 đồng. Chị N2 chưa trả 5.700.000 đồng tiền gốc.

15. Từ tháng 6/2022 đến tháng 01/2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Nguyễn Thị Thu T7 (sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 02 lần, cụ thể:

Lần 1: Tháng 6/2022, chị T7 vay số tiền 10.000.000 đồng với lãi suất 1.500.000 đồng/tháng, tương đương với 182,5%/năm. Quá trình cho vay, B, P đã thu của chị T7 07 tháng tiền lãi là 10.500.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 9.349.000 đồng. Chị T7 đã trả 10.000.000 tiền gốc.

Lần 2: Tháng 01/2023, chị T7 vay lại với số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.500.000 đồng/01tháng, tương đương với 182,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị T7 12 tháng tiền lãi là 18.00.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 16.027.000 đồng. Chị T7 còn nợ 10.000.000 đồng tiền gốc.

16. Khoảng cuối năm 2020, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Trần Văn T2 (sinh năm 1988, trú tại thôn B, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 01 lần với số tiền 7.000.000 đồng, lãi suất 700.000 đồng/01 tháng, tương đương với 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của anh T2 03 tháng tiền lãi là 2.100.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 1.755.000 đồng. Anh T2 đã trả được 3.000.000 đồng tiền gốc, còn 4.000.000 tiền gốc anh T2 chưa trả.

17. Tháng 01/2020, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Hoàng Thị Ngọc L1 (sinh năm 1984, trú tại thôn P, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 01 lần với số tiền 8.000.000 đồng, lãi suất 800.000 đồng/01 tháng, tương đương với lãi suất 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị L1 02 tháng với số tiền 1.600.000 đồng tiền lãi, trong đó số tiền thu lợi bất chính 1.337.000 đồng. Chị L1 còn nợ 8.000.000 đồng tiền gốc.

18. Tháng 4/2023, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Trần Thị V (sinh năm 1964, trú tại Tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.000.000 đồng/tháng, tương đương 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị V 07 tháng với số tiền 7.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 1.150.000 đồng. Chị V còn nợ 10.000.000 đồng tiền gốc.

19. Tháng 8/2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Hoàng Đức P1 (sinh năm 1983, trú tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay 100.000.000 đồng, lãi suất là 10.000.000 đồng/01 tháng, tương đương với 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P1 đã thu của của anh P1 03 tháng tiền lãi là 30.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 25.068.000 đồng. Anh P1 đã trả 100.000.000 tiền gốc.

20. Tháng 12/2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Bùi Thị T5 (sinh năm 1983, trú tại thôn Đ, xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.000.000 đồng/01 tháng, tương đương 121,67%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị T5 07 tháng tiền lãi là 7.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 5.849.000 đồng. chị Bùi Thị T5 đã trả đủ 10.000.000 đồng tiền gốc.

21. Tháng 01/2021, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho chị Phan Thị Như Ý (sinh năm 1986, trú tại tổ dân phố K, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay số tiền 10.000.000 đồng, lãi suất 1.000.00 đồng/01 tháng, tương đương với lãi suất 121,67%/01 năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của chị Ý 01 tháng tiền lãi 1.000.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 836.000 đồng. Chị Phan Thị Như Ý đã trả đủ 10.000.000 tiền gốc.

22. Tháng 12/2022, Trần Thị B, Hồ Ngọc P cho anh Nguyễn Đăng T6 (sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố T, thị trấn P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế) vay số tiền 15.000.000 đồng, lãi suất 1.400.000 đồng/ tháng, tương đương 113,5%/năm. Quá trình cho vay B, P đã thu của anh T6 04 tháng tiền lãi là 5.600.000 đồng, trong đó số tiền thu lợi bất chính 4.614.000 đồng. Anh T6 đã trả đủ 15.000.000 đồng tiền gốc.

Như vây, trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2023, Trần Thị B và Hồ Ngọc P đã cho tổng cộng 22 người trên địa bàn huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế vay với mức lãi suất của các lần vay từ 113,56%/năm đến 243,33%/năm (gấp 5,678 lần đến 12,16 lần mức lãi suất cao nhất theo quy định của pháp luật được quy định tại khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền thực tế cho vay là 539.800.000 đồng (năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng), tổng số tiền thu lợi bất chính là 227.591.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu, năm trăm chín mươi mốt ngàn đồng).

Quá trình điều tra, Trần Thị B và Hồ Ngọc P đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị can là phù hợp với những chứng cứ, lời khai của những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

*Vật chứng trong vụ án:

Quá trình khám xét khẩn cấp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P đã tạm giữ:

  • - 01 (một) cuốn vở ô ly, hiệu T, bên ngoài ghi Trương Trung học cơ sở Nguyễn D2, bên trong có 21 mặt vở ghi thông tin người vay và số tiền vay;
  • - 01 (một) giấy mượn tiền của Nguyễn Thị N;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y51 màu xanh dương, số Imail: 864874058087571 của Hồ Ngọc P;
  • - 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, số Imail: 352828/29/365990/8 của Trần Thị B;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS.01538 của ông Trần Đức T8 và 01 (một) giấy mượn tiền của Lê Thị H4;
  • - 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH.00347 của Nguyễn Thị Thu T7;
  • - 07 (bảy) cuốn sổ bảo hiểm xã hội của (Trần Văn T2, Hoàng Thị Ngọc L1, Lê Thị L3, Nguyễn Thị Thu T7, Phan Thị Như Ý, Nguyễn Thị T4 và Hồ Thị T3).

*Về xử lý vật chứng:

Tất cả các vật chứng nêu trên đang được tạm giữ nên chuyển đến Cơ quan thi hành án dân sự huyện P để tiếp tục phục vụ việc xét xử thi hành án.

*Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, căn cứ vào kết quả tính toán từ số tiền cho vay, số tiền gốc đã trả, tiền thu lợi bất chính, số tiền còn dư nợ chưa trả giữa những người vay và của các bị can, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện P xác định được trách nhiệm dân sự của 22 người vay tiền và Trần Thị B và Hồ Ngọc P thể hiện tại các cột “08”, “10” ở phụ lục Bản kết luận điều tra.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKSPĐ ngày 09/4/2024, đã quyết định truy tố Trần Thị B và Hồ Ngọc P về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 2 Điều 201; Điều 35; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật Hình sự hiện hành, tuyên bố: Trần Thị B và Hồ Ngọc P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Xử phạt Trần Thị B từ 1 năm đến 1 năm 3 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng; phạt bổ sung 35.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng để sung công và Hồ Ngọc P từ 09 tháng đến 01 năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng; phạt bổ sung 30.000.000 đồng đến 35.000.000 đồng để sung công;

Ngoài ra trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã dùng tiền để làm phươngtiện phạm tội và thu lợi bất chính nên tiếp tục truy thu sung công các khoản tiền sau:

1.Tổng số tiền bị cáo dùng để phạm tội là: 539.800.000 đồng (năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng), nhưng được trừ số tiền do người vay còn nợ tiền gốc là 152.200.000 đồng. Nên bị cáo phại nộp lại số tiền 387.600.000 đồng.

2. Truy thu số tiền lãi tương ứng mức lãi suất theo quy định của bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của những người vay là 33.092.000 đồng.

3. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P có nghĩa vụ trả lại cho 22 người vay số tiền đã thu lợi bất chính là 227.591.000 đồng.

4. Buộc những người chưa trả hết tiền gốc đã vay nộp lại để sung công gồm:

  • Buộc anh Trương Duy N3 phải nộp lại số tiền gốc là 9.500.000 đồng.
  • Buộc chị Trần Thị L2 nộp lại số tiền gốc là 55.000.000 đồng.
  • Buộc chị Lê Thị L3 nộp lại số tiền gốc là 8.000.000 đồng.
  • Buộc chị Nguyễn Thị H2 nộp lại số tiền gốc là 12.000.000 đồng.
  • Buộc anh Trần Đăng N1 phải nộp lại số tiền gốc là 18.000.000 đồng.
  • Buộc chị Lê Thị H4 nộp lại số tiền gốc là 12.000.000 đồng.
  • Buộc chị Nguyễn Thị N2 nộp lại số tiền gốc là 5.700.000 đồng.
  • Buộc chị Nguyễn Thị Thu T7 nộp lại số tiền gốc là 10.000.000 đồng.
  • Buộc anh Trần Văn T2 phải nộp lại số tiền gốc là 4.000.000 đồng.
  • Buộc chị Hoàng Thị Ngọc L1 nộp lại số tiền gốc là 8.000.000 đồng.
  • Buộc chị Trần Thị V nộp lại số tiền gốc là 10.000.000 đồng.

Về tang vật: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y51 màu xanh dương, số Imail: 864874058087571 của Hồ Ngọc P; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, số Imail: 352828/29/365990/8 của Trần Thị B đã qua sử dụng đây là phương tiện dùng để phạm tội.

Về các giấy tờ có giá trị của những người vay cần trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS.01538 của ông Trần Đức T8 và 01 (một) giấy mượn tiền của Lê Thị H4; 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH.00347 của Nguyễn Thị Thu T7; 07 (bảy) cuốn sổ bảo hiểm xã hội của (Trần Văn T2, Hoàng Thị Ngọc L1, Lê Thị L3, Nguyễn Thị Thu T7, Phan Thị Như Ý, Nguyễn Thị T4 và Hồ Thị T3).

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện P, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P khai nhận: Trong khoảng thời gian từ tháng 01 năm 2020 đến tháng 12 năm 2023, tại địa bàn huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế, Trần Thị B và Hồ Ngọc P đã cho tổng cộng 22 người vay trên tổng số 40 lượt vay với mức lãi suất của các lần vay từ 113,56%/năm đến 243,33%/năm (gấp 5,67 lần đến 12,16 lần mức lãi suất cao nhất được quy định tại khoản 1, Điều 468 Bộ luật Dân sự). Tổng số tiền thực tế đã cho vay là 539.800.000 đồng (Năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng). Tổng số tiền Trần Thị B và Hồ Ngọc P đã thu lợi bất chính là 227.591.000 đồng (Hai trăm hai mươi bảy triệu năm trăm chín mươi mốt ngàn đồng).

Hành vi của Trần Thị B và Hồ Ngọc P đã xâm hại trực tiếp chế độ quản lý của Nhà nước về tín dụng-Ngân hàng, gây ảnh hưởng xấu trong đời sống xã hội.

Như vậy, Viện kiểm sát Nhân dân huyện Phong Điền truy bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo quy định tại khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017 là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Xét năng lực hành vi của các bị cáo, thấy rằng bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vì ham muốn thu lợi bất chính mà bị cáo đã phạm tội. Về vai trò, Trần Thị B và Hồ Ngọc P đều cùng bàn bạc, thống nhất sử dụng số tiền của cả 02 vợ chồng cho người khác vay với lãi suất cao, nhằm mục đích thu lời bất chính cùng hưởng lợi, nên chịu trách nhiệm với vai trò ngang nhau trong vụ án.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử nhận thấy đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo là phù hợp với qui định pháp luật, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự. Đối với Trần Thị B có bố đẻ được nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng ba và huân chương Quyết thắng hạng nhì nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[4] Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

4.1. Tổng số tiền các bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P dùng để phạm tội là: 539.800.000 đồng (năm trăm ba mươi chín triệu, tám trăm nghìn đồng) cần phải truy thu để sung công, nhưng được trừ số tiền do người vay còn nợ tiền gốc là 152.200.000 đồng. Buộc các bị cáo phại nộp lại số tiền 387.600.000 đồng.

4.2. Truy thu số tiền lãi tương ứng mức lãi suất theo quy định của bộ luật dân sự mà các bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P đã thu của những người vay là 33.092.000 đồng để sung công.

4.3. Buộc bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P có nghĩa vụ trả lại số tiền đã thu lợi bất chính là 227.591.000 đồng cho những người vay gồm:

  1. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trương Duy N3 số tiền 4.007.000 đồng;
  2. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trương Duy T9 D1 số tiền 418.000 đồng;
  3. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Trần Thị L2 số tiền 52.931.000 đồng;
  4. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Đình H3 số tiền 1.671.000 đồng;
  5. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Đồng Hữu H số tiền 9.234.000 đồng;
  6. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Lê Thị L3 số tiền 1.587.000 đồng;
  7. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 số tiền 8.684.000 đồng;
  8. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 4.275.000 đồng;
  9. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị T4 số tiền 5.561.000 đồng;
  10. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trần Đăng N1 số tiền 43.320.000 đồng;
  11. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị N số tiền 7.437.000 đồng;
  12. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Lê Thị H4 số tiền 12.537.000 đồng;
  13. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Hồ Thị T3 số tiền 3.342.000 đồng;
  14. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị N2 số tiền 1.903.000 đồng;
  15. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu T7 số tiền 25.376.000 đồng;
  16. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trần Văn T10 số tiền 1.755.000 đồng;
  17. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Hoàng Thị Ngọc L1 số tiền 1.337.000 đồng;
  18. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Trần Thị V số tiền 5.849.000 đồng;
  19. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Hoàng Đức P1 số tiền 25.068.000 đồng;
  20. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Bùi Thị T5 số tiền 5.849.000 đồng;
  21. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Phan Thị Như Ý số tiền 836.000 đồng;
  22. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Đăng T6 số tiền 4.614.000 đồng.

4.4. Buộc những người vay chưa thanh toán số tiền gốc (tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội) để nộp lại sung công nhà nước với tổng số tiền là 152.200.000 đồng gồm 11 người sau:

  1. Buộc anh Trương Duy N3 phải nộp lại số tiền gốc là 9.500.000 đồng;
  2. Buộc chị Trần Thị L2 nộp lại số tiền gốc là 55.000.000 đồng;
  3. Buộc chị Lê Thị L3 nộp lại số tiền gốc là 8.000.000 đồng;
  4. Buộc chị Nguyễn Thị H2 nộp lại số tiền gốc là 12.000.000 đồng;
  5. Buộc anh Trần Đăng N1 phải nộp lại số tiền gốc là 18.000.000 đồng;
  6. Buộc chị Lê Thị H4 nộp lại số tiền gốc là 12.000.000 đồng;
  7. Buộc chị Nguyễn Thị N2 nộp lại số tiền gốc là 5.700.000 đồng;
  8. Buộc chị Nguyễn Thị Thu T7 nộp lại số tiền gốc là 10.000.000 đồng;
  9. Buộc anh Trần Văn T2 phải nộp lại số tiền gốc là 4.000.000 đồng;
  10. Buộc chị Hoàng Thị Ngọc L1 nộp lại số tiền gốc là 8.000.000 đồng;
  11. Buộc chị Trần Thị V nộp lại số tiền gốc là 10.000.000 đồng.

Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y51 màu xanh dương, số Imail: 864874058087571 của Hồ Ngọc P; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, số Imail: 352828/29/365990/8 của Trần Thị B đã qua sử dụng đây là phương tiện dùng để phạm tội.

Về các giấy tờ có giá trị của những người vay cần trả lại cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS.01538 của ông Trần Đức T8 (do chị Lê Thị H4 cầm cố); 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH.00347 của Nguyễn Thị Thu T7; 07 (bảy) cuốn sổ bảo hiểm xã hội của (Trần Văn T2, Hoàng Thị Ngọc L1, Lê Thị L3, Nguyễn Thị Thu T7, Phan Thị Như Ý, Nguyễn Thị T4 và Hồ Thị T3).

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P có nghĩa vụ trả lại cho 14 người vay số tiền đã thu lợi bất chính là 113.926.000 đồng gồm.

[5] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” .

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

- Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Xử phạt: Trần Thị B 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; phạt bổ sung 35.000.000 đồng để sung công.

- Áp dụng khoản 2, khoản 3 Điều 201; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Xử phạt: Hồ Ngọc P 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 06 (sáu) tháng về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; phạt bổ sung 30.000.000 đồng để sung công;

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Giao bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P cho Ủy ban Nhân dân xã P, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

- Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ Điều 5 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 201 của Bộ luật hình sự và việc xét xử vụ án hình sự về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự.

* Truy thu sung công số tiền Trần Thị B và Hồ Ngọc P đã bỏ ra cho vay là 387.600.000 đồng.

* Truy thu số tiền lãi tương ứng mức lãi suất theo quy định của bộ luật dân sự mà bị cáo đã thu của những người vay là 33.092.000 đồng.

* Buộc bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P có nghĩa vụ trả lại số tiền đã thu lợi bất chính là 227.591.000 đồng cho những người vay gồm:

  1. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trương Duy N3 số tiền 4.007.000 đồng;
  2. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trương Duy T9 D1 số tiền 418.000 đồng;
  3. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Trần Thị L2 số tiền 52.931.000 đồng;
  4. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Đình H3 số tiền 1.671.000 đồng;
  5. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Đồng Hữu H số tiền 9.234.000 đồng;
  6. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Lê Thị L3 số tiền 1.587.000 đồng;
  7. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị Hồng H1 số tiền 8.684.000 đồng;
  8. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị H2 số tiền 4.275.000 đồng;
  9. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị T4 số tiền 5.561.000 đồng;
  10. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trần Đăng N1 số tiền 43.320.000 đồng;
  11. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị N số tiền 7.437.000 đồng;
  12. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Lê Thị H4 số tiền 12.537.000 đồng;
  13. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Hồ Thị T3 số tiền 3.342.000 đồng;
  14. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị N2 số tiền 1.903.000 đồng;
  15. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Nguyễn Thị Thu T7 số tiền 25.376.000 đồng;
  16. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Trần Văn T10 số tiền 1.755.000 đồng;
  17. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Hoàng Thị Ngọc L1 số tiền 1.337.000 đồng;
  18. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Trần Thị V số tiền 5.849.000 đồng;
  19. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Hoàng Đức P1 số tiền 25.068.000 đồng;
  20. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Bùi Thị T5 số tiền 5.849.000 đồng;
  21. Buộc các bị cáo trả lại cho chị Phan Thị Như Ý số tiền 836.000 đồng;
  22. Buộc các bị cáo trả lại cho anh Nguyễn Đăng T6 số tiền 4.614.000 đồng.

* Buộc những người vay chưa thanh toán số tiền gốc (tiền bị cáo dùng vào việc phạm tội) nộp lại sung công nhà nước với tổng số tiền là 152.200.000 đồng gồm 11 người sau:

  1. Buộc anh Trương Duy N3 phải nộp lại số tiền gốc là 9.500.000 đồng;
  2. Buộc chị Trần Thị L2 nộp lại số tiền gốc là 55.000.000 đồng;
  3. Buộc chị Lê Thị L3 nộp lại số tiền gốc là 8.000.000 đồng;
  4. Buộc chị Nguyễn Thị H2 nộp lại số tiền gốc là 12.000.000 đồng;
  5. Buộc anh Trần Đăng N1 phải nộp lại số tiền gốc là 18.000.000 đồng;
  6. Buộc chị Lê Thị H4 nộp lại số tiền gốc là 12.000.000 đồng;
  7. Buộc chị Nguyễn Thị N2 nộp lại số tiền gốc là 5.700.000 đồng;
  8. Buộc chị Nguyễn Thị Thu T7 nộp lại số tiền gốc là 10.000.000 đồng;
  9. Buộc anh Trần Văn T2 phải nộp lại số tiền gốc là 4.000.000 đồng;
  10. Buộc chị Hoàng Thị Ngọc L1 nộp lại số tiền gốc là 8.000.000 đồng;
  11. Buộc chị Trần Thị V nộp lại số tiền gốc là 10.000.000 đồng.

* Tịch thu sung công: 01 (một) điện thoại di động hiệu Vivo Y51 màu xanh dương, số Imail: 864874058087571 của Hồ Ngọc P; 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy màu đen, số Imail: 352828/29/365990/8 của Trần Thị B đã qua sử dụng, theo mô tả biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/5/2024. Tang vật đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.

* Trả lại các giấy tờ có giá trị cho những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan gồm: 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS.01538 (mang tên ông Trần Đức T8) cho chị Lê Thị H4; 01 (một) giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH.00347 cho Nguyễn Thị Thu T7; 07 (bảy) cuốn sổ bảo hiểm xã hội gồm: sổ BHXH số: 4615000735 cho anh Trần Văn T2; sổ BHXH số: 4609001404 cho chị Hoàng Thị Ngọc L1; sổ BHXH số: 4616001360 cho chị Lê Thị L3; sổ BHXH số: 4608011376 cho chị Nguyễn Thị Thu T7; sổ BHXH số: 4608011124 cho chị Phan Thị Như Ý, sổ BHXH số: 4614003040 cho chị Nguyễn Thị T4 và sổ BHXH số: 4611010947 cho chị Hồ Thị T3. Theo mô tả biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 09/5/2024. Tang vật đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền.

- Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Thị B và Hồ Ngọc P mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Án xử công khai, báo cho các bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh TT Huế;
  • - VKSND huyện Phong Điền;
  • - Bị cáo;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh TT Huế;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh TT Huế;
  • - CA huyện Phong Điền;
  • - THADS huyện Phong Điền;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; hồ sơ THAHS;
  • - Án văn hình sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Văn Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 11/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: B - P cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger