|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/DS-PT Ngày: 16 - 01 - 2026 V/v "Tranh chấp QSD đất và bồi thường thiệt hại" |
NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Trường Sơn.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quang Tuấn và bà Hoàng Ngọc Liễu.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Lương Phương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Xuân Tân - Kiểm sát viên.
Ngày 18/12/2025 và ngày 16/01/2026 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2025/TLPT-DS ngày 15/7/2025 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại”. Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 19/3/2025 của Toà án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Phú Thọ (nay là TAND khu vực 13 - Phú Thọ) bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 186/2025/QĐPT-DS ngày 08/10/2025; Quyết định hoãn phiên tòa số: 151/2025/QĐ-PT ngày 18/11/2025 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số: 21/2025/QĐPT-DS ngày 18/12/2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị X, sinh năm 1978. Nơi cư trú: thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội (nay là thôn T, xã P, thành phố Hà Nội). Bà X có mặt.
- Bị đơn: Ông Thái H2, sinh năm 1957. Nơi cư trú: Số B, ngõ A L, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường B, thành phố Hà Nội). Ông H2 vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Phạm Thị Diệu T, sinh năm 1965. Nơi cư trú: Số B, ngõ A L, phường C, quận H, thành phố Hà Nội (nay là phường B, thành phố Hà Nội). Bà T vắng mặt.
- Người đại diện theo ủy quyền của cho ông H2 và bà T là bà Trần Thị Tuyết Địa chỉ: P tòa nhà H, số E ngõ H N, quận H, thành phố Hà Nội. (nay là phường Y, Hà Nội). Bà T1 có mặt.
- 3.2. Công ty TNHH S2. Người đại diện theo pháp luật: Ông Y - Chức vụ: Giám đốc. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- 3.3. Ủy ban nhân dân huyện L (nay là UBND xã L, tỉnh Phú Thọ). Có đơn xin xét xử vắng mặt.
- 4. Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị X và bị đơn ông Thái H2.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X trình bày:
Ngày 22/12/2020, gia đình bà nhận chuyển nhượng thửa đất số 67, tờ bản đồ số 120-C diện tích 1988m² (trong đó diện tích đất ở là 400m², diện tích đất vườn là 1588m²), Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số S937891 được UBND huyện L cấp ngày 08/6/1999 tại xóm Đ, xã L, huyện L, Hòa Bình mang tên ông Phí Văn T2. Ông T2 đã chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đức T3 và bà Phạm Hồng V, ông T3 bà V đã chuyển nhượng lại cho bà và đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện L công nhận tại trang 4 GCNQSDĐ tên Nguyễn Thị X.
Trích lục bản đồ đo đạc năm 1996 mặt trước thửa đất giáp đường đi vào ngõ cụt xóm Đ, bên trái thửa đất có khoảng 14m chiều dài 17m giáp đường trục chính xóm Đ (đường trục chính thửa đất có chiều rộng 7,3m, khoảng hơn 40m còn lại giáp với 3 hộ dân; bên phải thửa đất và đẳng sau thửa đất giáp sân golf; chỉ có vài mét đằng sau giáp suối (khi nhận chuyển nhượng gia đình bà X không ký giáp ranh với 03 hộ trên vì thấy 02 hộ đã xây tường bao và 01 hộ có hàng rào cây phân ranh giới (vì khi trao đổi mua bán các bên thống nhất bên bán sẽ lo đầy đủ giấy tờ thủ tục cho bên mua). Sau khi được được công nhận tại trang 4 GCNQSDĐ, do chưa có nhu cầu sử dụng gia đình bà xây quây lại một số vế tường bao xung quanh thửa đất. Ngày 18/3/2022 ông H2 đã cho người phá tường bao xung quanh thửa đất và xây tường ngăn với ý đồ chiếm đoạt một phần đất của bà.
Nay bà Nguyễn Thị X đề nghị Toà án xử buộc ông Thái H2:
- Phải trả lại gia đình bà diện tích đất lấn chiếm khoảng 465,8m² và tháo dỡ, di chuyển toàn bộ bức tường bao đã xây dựng trái phép ra khỏi thửa đất của bà X.
- Bồi thường thiệt hại về tài sản và tinh thần gồm: Tường bao trên thửa đất (kích thước 1,5m x 2,5m) = 10.000.000 đồng hoặc xây lại như cũ; Chi phí đi lại (từ ngày 18/3/2022 đến ngày 31/12/2022) = 21.750.000 đồng; Chi phí đo đạc = 5.000.000 đồng; Chi phí khác: Phí chuyển phát nhanh 78.000 đồng; Phí công chứng 1.000.000 đồng; Tổn thất tinh thần = 12.990.500 đồng. Tổng là 50.818.500 đồng (Năm mươi triệu tám trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).
2. Ý kiến của bị đơn ông Thái H2 và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày:
Ngày 20/6/1994, ông Nguyễn Đình Y1 là bác họ ông H2 có mua đất trên L và giới thiệu cho ông H2 mua 300m² đất gồm nhà, giếng nước và vườn tạp trong tổng số diện tích đất 2300m² (400m2 đất ở còn lại đất vườn của ông S và bà X1) tại xóm Đ, xã L. Ông H2 nhận chuyển nhượng phần đất có nhà và giếng nước giá chuyển nhượng 6.500.000 đồng. Ông H2 đã giao đủ tiền và đã được trưởng xóm, chủ tịch xã ký xác nhận việc mua bán và đóng dấu.
Ngày 20/02/1995, hai bên giao nhận đủ tiền và bàn giao đất thực tế có ông Hồ Chí T4 ký làm chứng. Do chưa có nhu cầu sử dụng nên ông H2 đóng tiền kéo điện cho ngôi nhà và đã ký giấy cho người địa phương mượn đề trồng cây. Cùng thời điểm đó ông S, bà X1 có bán 100m2 đất ở liền kề và vườn tạp cho ông Phí Văn T2 với giá 26.000.000 đồng và cũng đã được trưởng xóm và chủ tịch xã ký xác nhận và đóng dấu. Ngày 23/8/1995 ông H2 có gửi giấy tờ mua bán cho ông Mai Thanh L để làm GCNQSDĐ nhưng đến nay vẫn chưa được cấp.
Sau đó ông H2 đã đồng ý đổi với ông T2 lấy phần đất mặt tiền khoảng 400m² để nhận phần đuôi thửa đất. Ông T2 mua 2000m² đất trồng cây lâu năm nhưng được cấp GCNQSDĐ diện tích 1988m² trong đó có 400m² đất ở. Dựa vào sự thoả thuận của hai bên thì GCNQSDĐ cấp cho ông T2 đã có ranh giới ở giữa, hình thể kéo dài tách đôi thửa đất như hiện trạng. Sau này ông T2 và ông có nhờ ông Đỗ Văn H xác nhận và xây giúp tường rào ngăn chia thửa đất theo thoả thuận của hai bên từ trước. Khi ông T2 được cấp GCNQSDĐ thì ông H2 cũng không được biết.
Ngày 14/8/2007, do có đất vào dự án sân golf nên ông H2 được kê khai tài sản. Tuy nhiên do phần đất của ông H2 không bị thu hồi nên không được nhận tiền bồi thường. Tháng 01/2020 ông T2 chuyển nhượng đất cho ông T3 bà V, tháng 12/2020 ông T3 bà V chuyển nhượng lại cho bà X. Việc mua bán chuyển nhượng ông H2 và các hộ liền kề không được biết và không được ký xác nhận ranh giới. Tại các biên bản làm việc tại UBND xã L sau này ông H2 được biết khi bà X nhận chuyển nhượng đất đã được ông Hoàng Văn S1 cho biết thông tin và can ngăn chuyện phá tường bao nhà ông H2. Bà X xây dựng tường quây kín thửa đất của nhà ông H2 vào chung với thửa đất của bà X nhằm chiếm đoạt đất của ông H2. Sau khi bà X phá tường, ông H2 đã nhờ con cháu liên hệ mua vật liệu, thuê thợ xây lại tường theo phần móng cũ của tường bà X đã phá huỷ trái pháp luật.
Nay ông H2 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Ngày 15/9/2023 ông Thái H2 có yêu cầu phản tố:
- Đề nghị Toà án tuyên huỷ và thu hồi GCNQSDĐ số S937891 vào số cấp GCN số 00061 do UBND huyện L, tỉnh Hoà Bình cấp ngày 08/6/1999 cho ông Phí Văn T2 (được sang tên trang 4 cho bà Nguyễn Thị X ngày 22/12/2020) do cấp sai thông tin mục đích sử dụng đất của chủ sở hữu.
- Buộc bà X phải bồi thường thiệt hại do đã phá bức tường ngăn giữa đất của ông H2 và ông T2 bằng giá trị của Hội đồng định giá là 35.000.000 đồng.
3. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- 3.1. Bà Phạm Thị Diệu T: Đồng quan điểm với ông Thái H2.
- 3.2. Công ty TNHH S2: Tại văn bản số 1122/2023 ngày 22/11/2023 và văn bản số 209/SG-PH ngày 20/9/2024 Công ty khẳng định từ năm 2004 dự án đi vào đền bù giải phóng mặt bằng không có tranh chấp gì với các hộ dân. Vụ việc tranh chấp đất đai giữa các bên không liên quan đến Công ty, xin được vắng mặt trong tất cả các buổi làm việc và phiên toà xét xử vụ án.
- 3.3. Ủy ban nhân dân huyện L: Tại văn bản ngày 25/11/2024 khẳng định: Việc cấp GCNQSDĐ số 00061/QSDĐ182/UBH ngày 08/6/1999 tại thửa số 67 tờ bản đồ số 120-c diện tích 1988m² (trong đó: đất ở 400m², đất vườn 1488m²) cho hộ ông Phí Văn T2 là đúng quy định pháp luật đất đai năm 1993. Chủ tịch UBND huyện L có công văn đề nghị được vắng mặt tại tất cả các buổi làm việc và các phiên toà xét xử.
4. Người làm chứng:
- 4.1. Bà Hoàng Thị X1 trình bày: Bà X1 có 2300m² đất ở xóm Đ xã L. Năm 1994 bà đã chuyển nhượng cho ông Phí Văn T2 2000m² đất và năm 1995 chuyển nhượng cho ông Nguyễn Đình Y1 300m² (ông Y1 mua hộ ông Thái H2 nên mọi giấy tờ chuyển nhượng đều ghi tên ông Thái H2). Trên đất chuyển nhượng cho ông T2 có trồng cây lâu năm, một phần giáp đường đi của xóm (nay là đất của sân golf). Phần đất chuyển nhượng cho ông H2 có nhà ở, sân và giếng nước, phần đất này giáp với ruộng (nay là đường đi vào khu tái định cư dự án Thung lũng N). Cả hai phần đất bán cho ông T2 và ông H2 có cạnh phía Nam tiếp giáp với đường xóm và trường học và cạnh phía Bắc giáp với suối.
- 4.2. Ông Phí Văn T2, theo lời khai ngày 02/8/2023 trình bày: Khoảng năm 1993-1994 ông có mua của bà X1 2000m² đất trên tổng số 2300m² tại xóm Đ, xã L, trên đất không có tài sản gì. Phần đất của ông có giáp đường xóm, một phía giáp sân golf + suối và một phía giáp phần đất còn lại của bà X1. Đến năm 1999 ông được cấp GCNQSDĐ thửa số 67 diện tích 1988m² (gồm 400m² đất ở và 1588m² đất vườn). Sau đó ông T2 chuyển nhượng toàn bộ 1988m² đất trên cho anh T3 mọi thủ tục chuyển nhượng đều nhờ cán bộ địa chính xã làm. Phần diện tích 300m² còn lại sau này ông nghe nói bà X1 bán cho ông Thái H2, tuy nhiên ông chưa gặp ông Thái H2 lần nào, không đổi phần đất với ông Thái H2.
- Năm 1999 ông T2 nhờ ông H địa chính xây tường quanh thửa đất. Khi ông H xây tường ông không có mặt ở đó nhưng trước đó ông có chỉ mốc giới cho ông H. Gia đình ông không bị thu hồi đất nên không được nhận tiền đền bù.
- 4.3. Ông Đỗ Văn H - Nguyên cán bộ địa chính xã L trình bày: Năm 1994 bà X1 có chuyển nhượng cho ông Phí Văn T2 1988m² đất, năm 1999 ông T2 đã được cấp GCNQSDĐ. Sau khi mua đất ông T2 đã dựng cột bê tông hàng rào dây thép gai xung quanh diện tích đất để tách biệt diện tích đất của ông H2. Năm 2003 ông T2 nhờ ông H xây tường bao quanh thửa đất, ông T2 có chỉ ranh giới thửa đất và thợ xây đúng theo hàng rào dây thép gai ông T2 đã làm. Khi sân golf xây tường bao tiếp giáp thửa đất của ông T2 đã xây đè lên phần tường mà ông T2 nhờ ông xây năm 2003. Năm 2007, có dự án sân golf do không có số điện thoại nên ông không thể báo ông T2 lên xem đất có bị thu hồi không. Ông H không biết đất của ông T2 có vào dự án hay không. Theo hiện trạng thửa đất thì không có việc ông T2 và ông H2 đổi đất cho nhau cũng chưa bao giờ thấy 02 ông gặp nhau. Con đường đi vào thửa đất nhà ông T5 trước đây là đất ruộng không có đường đi, năm 2004 có dự án khu tái định cư thì con đường đó mới hình thành.
- 4.4. Ông Hoàng Văn S1 cho biết: Nguồn gốc thửa đất số 67 xóm Đ là của bà Hoàng Thị X1 (em gái ông S1) được bố mẹ cho từ năm 1983 sau đó bà X1 chuyển nhượng cho ông Phí Văn T2 một phần đất vườn và chuyển cho ông H2 phần đất có nhà ở. Bà X1 đã bàn giao đất cho ông H2, ông T2 có biết nhưng không có ý kiến gì. Được một thời gian ông T2 và ông H2 thống nhất xây tường ngăn ranh giới hai thửa đất ông H cán bộ địa chính xây. Bà X mua lại đất của ông T2 và xây một bức tường bao tiếp giáp đường giao thông phía trường học và bức tường tiếp giáp đất tập thể bao hết phần đất của ông Thái H2. Ông S1 có ý kiến ngăn cản nhưng bà X vẫn xây và phá luôn bức tường do ông T2 và ông H2 xây trước đây.
5. Quá trình Tòa án xác minh thu thập được các tài liệu như sau:
- Biên bản làm việc ngày 12/9/2023 UBND xã L cho biết: Thửa đất số 67, tờ bản đồ 120-C,diện tích 1988m² tại xóm Đ mang tên ông Phí Văn T2 đã đính chính trang 4 cho bà Nguyễn Thị X được tách ra từ thửa đất số 05, tờ bản đồ số 08, diện tích tích 2300m² đất ở và đất vườn tên bà Hoàng Thị X1 được cấp năm 1992.
- Năm 1994 ông T2 nhận chuyển nhượng của bà X1, năm 1999 ông T2 được cấp GCNQSDĐ. Phần đất ông T2 được chuyển nhượng giáp với ngõ của xóm (nay là sân golf) còn lại 300m² bà X1 chuyển nhượng cho ông Thái H2 giáp với đất ruộng nay là con đường đi vào khu tái định cư T.
- Phần đất của ông T2 và ông H2 đã được cập nhật tại sổ mục kê và bản đồ địa chính do UBND xã L quản lý. Phần diện tích đất của ông H2 được cập nhật trong bản đồ địa chính là thửa số 99 diện tích 300m² chưa được cấp GCNQSDĐ. Do chỉnh lý nhầm vị trí nên phần đất 300m² tiếp giáp đường ngõ xóm nay là sân golf, tuy nhiên thực tế phần đất này phải tiếp giáp với thửa số 67 và thửa số 70, 69, 68, 71 (nay là đường đi của tái định cư) và một phần đất bỏ trống.
- Tại Công văn số 427 ngày 21/6/2023 Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai trả lời: Sau khi kiểm tra rà soát tài liệu liên quan và kho lưu trữ hiện chi nhánh không có hồ sơ cấp GCNQSDĐ cho ông Phí Văn T2 tại thửa số 67, tờ bản đồ 120-C, diện tích 1988m² tại xóm Đ, xã L.
- Công văn số 3059 ngày 22/9/2023 của Chi cục thuế huyện L thể hiện: Chi cục thuế đã rà soát hồ sơ nộp thuế của ông Phí Văn T2 và cho kết quả không tìm thấy hồ sơ theo yêu cầu của Toà án.
- Tại Văn bản trả lời số 121 ngày 14/3/2024 của Trung tâm phát triển quỹ đất huyện L thể hiện: Tại các Quyết định phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư không có tên ông Thái H2 và ông Phí Văn T2 được bồi thường, hỗ trợ theo các quyết định đã được phê duyệt.
- Tại Công văn số 1245 ngày 06/9/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thể hiện: Không có hồ sơ biến động liên quan đến thửa đất số 05 tờ bản đồ số 08 diện tích 2300m² tên bà Hoàng Thị X1 tại xóm Đ, xã L, L, Hòa Bình.
- Tại Văn bản số 2059 ngày 13/9/2024 của UBND huyện L thể hiện: Hồ sơ giải phóng mặt bằng hiện dự án sân golf không thu hồi thửa đất số 05 tờ bản đồ số 08 diện tích 2300m² tên bà Hoàng Thị X1 (có hồ sơ kèm theo).
- Ngày 19/12/2024 Toà án đã có văn bản đề nghị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Trích đo tỷ lệ 1/1000 theo GCNQSDĐ số 02369 ngày 03/8/1992 của bà Hoàng Thị X1 và tỷ lệ 1/2000 trên GCNQSDĐ số 937891 UBND huyện L cấp ngày 08/6/1999 tên ông Phí Văn T2. Tại công văn trả lời số 296 ngày 11/02/2025 của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thì việc xác định kích thước cạnh của thửa đất theo tỷ lệ 1/1000 theo GCNQSDĐ tên bà Hoàng Thị X1 và theo tỷ lệ 1/2000 theo GCNQSDĐ tên hộ ông Phí Văn T2, Chi nhánh văn phòng Đ không có cơ sở để xác định.
- Tại Công văn trả lời số 174/TNMT ngày 11/02/2025 thể hiện: Không lưu hồ sơ biến động thửa đất số 05 tờ bản đồ số 08 diện tích 2.300m² tên bà Hoàng Thị X1 và hồ sơ biến động thửa đất số 67 tờ bản đồ số 120-C diện tích 1988m² tại xóm Đ tên ông Phí Văn T2.
- Ngày 08/6/2023, Toà án tiến hành thẩm định tại chỗ thửa đất đang tranh chấp:
- - Bà X chỉ dẫn: Phía Đông giáp với sân golf; phía Tây giáp với đất xóm và đất ông T5; phía Nam giáp với trường học; phía Bắc giáp với sân golf S2. Bà X trình bày năm 2021 bà xây tường phần phía Tây, phía Nam thửa đất.
- - Bà T1 chỉ dẫn phần đất ông H2 mua của bà X1 có các cạnh như sau: Phía Đông tiếp giáp thửa đất số 67; phía Tây giáp thửa đất xóm và đất ông T5; phía Nam giáp phía trường học; phía bắc giáp sân golf L2.
- Biên bản định giá tài sản ngày 15/9/2023 kết luận:
- - Đất: 465,8m² x 1200.000đồng/m² = 558.960.000 đồng
- - Tài sản trên đất:
Bức tường dài 62,81m có giá 35.000.000 đồng.
Bức tường rào dài 75,19m có giá 12.027.000 đồng.
- Theo Kết quả trích đo ngày 27/8/2023 tổng diện tích đo do bà X chỉ dẫn là 2057,8m²; phần đất do bà T1 chỉ dẫn là 465,8m².
- Kết quả trích đo thể hiện thửa số 67 theo bản đồ địa chính năm 1995 có diện tích là 2288m², nay đo đạc hiện trạng theo chỉ dẫn của bà X và bà T1 là 2047,8m². Tại văn bản trả lời ngày 17/10/2024 Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai: Diện tích đất thửa số 67 tờ bản đồ F-48-115-120-c trên bản đồ địa chính năm 1995 thể hiện diện tích là 2288m² nay được số hoá tính lại thì thửa đất số 67 diện tích là 2269,4m². Hiện tại thửa số 67 theo sự chỉ dẫn của Toà án khi lồng ghép lên bản đồ địa chính năm 1995 có sự chồng lấn lên các thửa lân cận gồm: Phía sân golf là 19,1m² phía khu vực tái định cư là 20,7m².
- Biên bản làm việc tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai ngày 18/6/2024. Theo bản đồ địa chính hiện trạng phần tường xây của sân golf Phượng H1 lấy vào thửa số 67 tờ bản đồ số F48-115-120-c diện tích 141,6m²; phần tường xây đường xóm phía Nam lấy vào là 91,7m²; phần giáp ranh với khu dân cư xóm Đ là 17,7m².
Tại Bản án số: 03/2025/DS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là TAND khu vực 13 - Phú Thọ): Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 34, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 165, Điều 217, 218, 273, 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 166 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 166, Điều 170, Điều 202 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị X về việc đòi ông Nguyễn Thái H2 phải trả một phần đất lấn chiếm và yêu cầu ông H2 phải tháo dỡ bức tường xây dựng năm 2022 trên thửa đất của bà cụ thể:
- + Buộc ông H2 phải tháo dỡ bức tường xây năm 2022 trên thửa đất số 67 có chiều dài 62,81m cao 01m, rộng 0,10m trả lại cho bà Nguyễn Thị X 194,2m² đất ông H2 đang lấn chiếm của bà X cụ thể kích thước như sau :
Phía bắc từ điểm A- điểm B rộng 3,09m
Phía Nam từ điểm C - điểm D rộng 3,08m
Phía Đông từ điểm D - điểm A dài 63,01m (có sơ đồ kèm theo)
- + Ông H2 phải di chuyển toàn bộ vật liệu tháo dỡ tường ra khỏi thửa đất số 67.
- + Bác yêu cầu của bà Nguyễn Thị X đòi bồi thường tổn thất về tài sản và tinh thần số tiền 50.818.500 đồng.
- + Buộc bà Nguyễn Thị X phải tháo dỡ bức tường xây có tổng chiều dài là 69,02m, gồm các đoạn: giáp với phần đất công, giáp với phần đất nhà ông T5, giáp đất sân Gôn, giáp đường xóm phía trường học. (có sơ đồ kèm theo)
- Bác toàn bộ yêu cầu phản tố của ông Thái H2 về việc yêu cầu bà X phải trả 35.000.000 đồng do bà X phá bức tường của của ông H2 và không chấp nhận yêu cầu huỷ GCNQSDĐ số S93789 do UBND huyện L cấp ngày 08/6/1999 cho ông Phí Văn T2, đã sang tên cho bà Nguyễn Thị X bằng hình thức định chính trang 4 GCNQSDĐ nêu trên.
- + Buộc ông H2 phải tháo dỡ bức tường xây năm 2022 trên thửa đất số 67 có chiều dài 62,81m cao 01m, rộng 0,10m trả lại cho bà Nguyễn Thị X 194,2m² đất ông H2 đang lấn chiếm của bà X cụ thể kích thước như sau :
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 31/3/2025, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X và ngày 04/4/2025 bị đơn ông Thái H2 kháng cáo toàn bộ Bản án dân sự sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.
6. Tại giai đoạn phúc thẩm, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ đã tiến hành xác minh làm rõ đối với các nhân chứng.
6.1. Ông Phí Văn T2 tại Biên bản lấy lời khai ngày 13/01/2026 và văn bản xác nhận mốc giới ngày 17/11/2025 đã trình bày:
Khoảng năm 1993 ông T2 có nhận chuyển nhượng 2000m² đất của bà Hoàng Thị X1 tại xã L, L, Hòa Bình. Bà X1 còn lại 300m² để ở. Đến năm 1999 ông T2 được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất trên, theo GCN thì diện tích thửa đất chỉ còn 1988m² và ông T2 không có ý kiến đối với diện tích thiếu này. Khi cấp GCNQSDĐ ông T2 được cán bộ địa chính chỉ dẫn mốc giới và xem xét phạm vi cụ thể của thửa đất. Sau khi có GCN ông T2 đã thuê ông H (địa chính xã) xây tường bao xung quanh thửa đất, trong đó có bức tường ngăn cách giữa thửa đất với hộ ông Thái H2. Ông T2 khẳng định bức tường này là để xác định ranh giới đất giữa hộ ông Thái H2 và ông T2.
Năm 2020 ông T2 đã chuyển nhượng thửa đất trên cho ông Nguyễn Đức T3. Theo thỏa thuận là ông T2 bán toàn bộ thửa đất số 67 cho ông T3 với giá 01 tỷ đồng. Ông T2 cũng khẳng định không bán theo diện tích mà bán theo thửa trên cơ sở đã có tường bao xung quanh, bởi nếu bán theo diện tích thì ông không bán giá như vậy vì đã có người trả ông 1,2 triệu đồng/m² thời điểm đó, do đó hai bên cũng không phải đo đạc kiểm tra lại diện tích thửa đất.
6.2. Ông Nguyễn Đức T3 tại Biên bản lấy lời khai ngày 25/12/2025 trình bày:
Khoảng đầu năm 2020 vợ chồng ông T3 và vợ chồng ông Nguyễn Thạc T6 có nhận chuyển nhượng của ông Phí Văn T2 thửa đất số 67, diện tích 1988m², địa chỉ: xã L, huyện L, Hòa Bình. Trên thực tế chỉ có một mình ông T3 đứng ra giao dịch. Khi mua đất ông T3 đã được ông T2 chỉ rõ vị trí đất là thấy thực địa lúc đó: Trên đất chưa có xây dựng gì, xung quanh thửa đất đã được xây tường bao hết, thửa đất có 02 mặt giáp sân golf, 01 mặt giáp đường xóm, còn 01 mặt giáp với hộ khác (sau này mới biết là hộ ông Thái H2). Ông T2 cũng nói rõ: “Mảnh đất có tường quây đây rồi và ranh giới đất là các bức tường”. Hai bên thống nhất mua bán theo thửa đất, không mua theo diện tích nên không tiến hành đo đạc lại diện tích đất cụ thể.
Ngày 25/11/2020 ông T3 (vợ là Nguyễn Thu T7) và ông T6 (vợ là Phạm Thị Hồng V) đã chuyển nhượng thửa đất trên cho bà Nguyễn Thị X. Bà X đã cùng ông T3 lên vị trí thửa đất để xem xét cụ thể. Ông T3 cũng chỉ cho bà X hiện trạng thửa đất lúc đó đã có tường bao xung quanh đầy đủ. Bức tường ngăn cách giữa đất ông H2 và ông T2 vẫn còn tồn tại. Bên cạnh thửa đất ông T2 là thửa đất của ông H2 hiện đang trồng rau nên ông T3 không chỉ bán đất cho bà X vị trí đó. Hai bên cũng thỏa thuận mua bán theo thửa đất, theo hiện trạng đã có tường bao nên không tiến hành đo đạc kiểm tra lại diện tích. Ông T3 cũng đã nói: “Thửa đất chỉ có vậy, có hiện trạng như vậy, thuận mua thì vừa bán”.
7. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn bà Nguyễn Thị X giữ nguyên đơn khởi kiện và yêu cầu kháng cáo: Đề nghị cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm, buộc ông H2 phải trả cho bà X diện tích đất 465m² đã lấn chiếm, tháo dỡ bức tường đã xây dựng trái phép năm 2022 và bồi thường cho bà X số tiền 50.818.500 đồng.
Bị đơn ông Thái H2 đề nghị cấp phúc thẩm: Sửa bản án sơ thẩm, theo hướng bác đơn khởi kiện của bà Nguyễn Thị X về việc buộc ông H2 phải trả lại 465m² đất và yêu cầu được công nhận diện tích đất trên thuộc quyền sử dụng của ông Thái H2; Rút toàn bộ yêu cầu phản tố về việc: Đề nghị Tòa án hủy GCNQSDĐ do UBND huyện L, tỉnh Hòa Bình cấp ngày 08/6/1999 cho ông Phí Văn T2 và yêu cầu bà X bồi thường thiệt hại do đã phá bức tường ngăn giữa đất của ông H2 và ông T2 có giá trị là 35.000.000 đồng.
8. Đại diện VKSND tỉnh Phú Thọ phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán và Thư ký Tòa án cấp phúc thẩm đã chấp hành đúng, đầy đủ các quy định của BLTTDS về thụ lý vụ án, thời hạn chuẩn bị xét xử. Người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Thái H2. Sửa một phần quyết định của Bản án sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 19/3/2025 của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình. Cụ thể:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X về việc: K đòi ông Thái H2 phải trả lại diện tích 465m² đất đã lấn chiếm và buộc ông H2 phải tháo dỡ, di chuyển toàn bộ bức tường bao đã xây dựng trái phép (năm 2022) ra khỏi thửa đất.
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Thái H2 về việc: Đề nghị Toà án huỷ GCNQSDĐ do UBND huyện L, tỉnh Hoà Bình cấp ngày 08/6/1999 cho ông Phí Văn T2 và yêu cầu bà X bồi thường thiệt hại do đã phá bức tường ngăn giữa đất của ông H2 và ông T2.
- Giữ nguyên các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị và không bị sửa.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Cấp sơ thẩm đã xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, thụ lý và giải quyết vụ án đúng thẩm quyền về loại việc và lãnh thổ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ngày 19/3/2025 Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn xét xử sơ thẩm. Ngày 31/3/2025 bà Nguyễn Thị X và ngày 04/4/2025 bị đơn ông Thái H2 có đơn kháng cáo. Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị X và ông Thái H2 trong thời hạn luật định nên được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Nội dung vụ án:
2.1. Về vị trí của thửa đất số 99: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ là bản đồ địa chính chính quy năm 1995, sổ mục kê, sổ địa chính và ý kiến của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, lời khai của những người làm chứng, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định như sau:
Bà Hoàng Thị X1 là chủ sử dụng thửa đất số 05, tờ bản đồ 08, diện tích 2.300m², địa chỉ: xóm Đ, xã L, huyện L, Hòa Bình (GCNQSDĐ số vào số 02369, do UBND huyện L cấp ngày 03/8/1992). Ngày 02/6/1994 bà X1 đã chuyển nhượng cho ông Phí Văn T2 diện tích 2000m². Ngày 20/02/1995 bà X1 chuyển nhượng nốt 300m² đất còn lại cho ông Thái H2. Ngày 08/6/1995 hộ ông T2 đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ số 00061 QSDĐ/182/UBH với diện tích là 1988m² (trong đó 400m² đất ở và 1588m² đất vườn). Mặc dù thửa đất 300m² của ông H2 chưa được cấp GCNQSDĐ nhưng đã được cập nhật ghi trong sổ mục kê do UBND xã L quản lý là thửa số 99 và được quy chủ cho ông Thái H2. Theo bản đồ địa chính năm 1995 thửa đất nảy có vị trí phía Đông giáp với thửa đất số 67, phía Tây giáp các thửa đất số 68, 69, 70, 71 nay là đường đi của khu tái định cư và một phần đất trống. Điều này phù hợp với lời khai của những người làm chứng là bà Hoàng Thị X1 là chủ sử dụng thửa đất, lời khai của ông Phí Văn T2, ông Nguyễn Đức T3 là người chuyển nhượng đất cho bà Nguyễn Thị X, lời khai của ông Đỗ Văn H - Nguyên là địa chính xã L và là người trực tiếp xây dựng tường bao cho ông T2, phù hợp với lời khai của ông Hoàng Văn S1 - Anh trai bà X1 và là chủ sử dụng thửa đất đối diện.
Tại Biên bản làm việc ngày 12/9/2023 bà Nguyễn Thị L1 - Cán bộ công chứng địa chính xã L đã khẳng định: Do chỉnh lý nhầm vị trí nên phần đất 300m² tiếp giáp với ngõ xóm nay là sân golf, tuy nhiên thực tế phần đất này phải tiếp giáp với thửa đất số 68, 69, 70, 71 nay là đường đi của khu tái định cư và một phần đất trống.
Ý kiến của Chi nhánh VPĐKĐĐ huyện L cũng như Công ty TNHH S2 cho biết: Dự án sân golf tại xóm Đ, xã L không thu hồi thửa đất số 05, diện tích 2300 m² mang tên bà Hoàng Thị X1 và các quyết định phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư không có tên ông Thái H2 và hộ ông Phí Văn T2.
Như vậy quan điểm của nguyên đơn cho rằng phần đất của ông H2 nằm tiếp giáp phía sân golf đã bị thu hồi không còn nữa là không có cơ sở.
2.2. Xét kháng cáo của nguyên đơn cho rằng ông Thái H2 đã lấn chiếm 465m² đất: Tại phiên tòa phúc thẩm ngày 18/11/2025 đại diện theo ủy quyền của bị đơn đã cung cấp văn bản xác nhận mốc giới của ông Phí Văn T2, do đó Tòa án phải tạm ngừng phiên tòa để xác minh. Kết quả xác minh thấy rằng:
Theo lời khai của ông Phí Văn T2: Năm 1993 ông T2 có nhận chuyển nhượng của bà Hoàng Thị X1 2000m² đất. Bà X1 còn lại 300m² đất để ở và sau đó thì chuyển nhượng diện tích này cho ông Thái H2. Đến năm 1999 ông T2 đã được UBND huyện L cấp GCNQSDĐ đối với diện tích đất trên và ghi nhận số diện tích là 1988m². Sau khi có GCN ông T2 đã cho xây tường bao xung quanh toàn bộ thửa đất. Năm 2020 ông T2 đã chuyển nhượng lô đất này cho ông Nguyễn Đức T3. Các bên thỏa thuận chuyển nhượng theo thửa đất và theo thực trạng của thửa đất đã có ranh giới, mốc giới, tường bao xung quanh. Ông T2 cũng khẳng định không chuyển nhượng theo diện tích nên cả hai bên không thực hiện việc đo đạc lại để kiểm tra diện tích đất. Bức tường xây ngăn cách với thửa đất của ông Thái H2 đã tồn tại và không có tranh chấp.
Theo lời khai của ông Nguyễn Đức T3 cũng xác nhận: Khi nhận chuyển nhượng lô đất trên đã được ông Phí Văn T2 chỉ rõ vị trí và ranh giới đã có tường bao xung quanh, trong đó có bức tường ngăn với thửa đất của ông H2. Hai bên đã thỏa thuận là chuyển nhượng cả thửa đất và theo thực trạng của lô đất nên không tiến hành đo đạc lại. Ông T3 cũng khẳng định khi ông chuyển nhượng cho bà Nguyễn Thị X cũng như vậy, việc chuyển nhượng cũng thực hiện trên cơ sở mốc giới thực trạng của thửa đất đã có sẵn tường bao xung quanh nên các bên không đo đạc cụ thể diện tích.
Tại chính lời khai của nguyên đơn cũng xác nhận tại thời điểm bà X nhận chuyển nhượng thửa đất từ ông T3 thì bức tường ngăn cách giữa 02 thửa đất đã tồn tại. Việc bà X nhận thức cho rằng bức tường này là nằm trong khuôn viên của thửa đất số 67 mà bà đã mua của ông Nguyễn Đức T3 là không đúng, mâu thuẫn với lời khai của ông T2, mâu thuẫn với lời khai của ông T3 là những người chủ sử dụng đất trước đó đã khẳng định chỉ chuyển nhượng thửa đất theo khuôn viên đất đã có tường bao xung quanh, không chuyển nhượng thửa đất bên cạnh (thửa số 99), do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận quan điểm này.
Tự do thỏa thuận trong các giao dịch dân sự là nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong pháp luật dân sự, khoản 2 Điều 3 của Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.”
Trong vụ án này, cả 02 giao dịch chuyển nhượng đất giữa ông Phí Văn T2 với ông Nguyễn Đức T3 và ông T3 với bà Nguyễn Thị X, các bên đương sự đã thỏa thuận rất rõ ràng là: Chuyển nhượng cả thửa đất và theo hiện trạng trên lô đất đã có tường bao xung quanh, trong đó có bức tường ngăn giữa thửa đất của ông T2 và ông H2, không chuyển nhượng theo diện tích mét vuông (m²) nên trên thực tế các bên đương sự đều không tiến hành kiểm tra đo đạc lại diện tích cụ thể trước khi chuyển nhượng. Thỏa thuận trên là phù hợp với quy định của pháp luật dân sự.
Mặt khác theo GCNQSDĐ cấp ngày 08/6/1999 cho hộ ông Phí Văn T2, trích bản đồ đo đạc chỉnh lý 1/2000, đo chỉnh lý năm 1996 thể hiện trên thửa đất số 67 có tường phân chia ranh giới giữa 02 thửa đất và tại Biên bản hòa giải ngày 02/8/2022 của UBND xã L (BL 07) đã kết luận: GCNQSDĐ cấp cho bà X phù hợp với hồ sơ địa chính, có ranh giới rõ ràng với đất của ông Thái H2 bằng tường gạch Block (trên nền móng cũ) và đề nghị các bên sử dụng đất đúng ranh giới GCNQSDĐ đã được cấp.
Bức tường xây ngăn giữa 02 thửa đất được ông T2 xây dựng từ năm 2003, tồn tại ổn định, không tranh chấp qua các lần chuyển nhượng. Năm 2022 chính bà Nguyễn Thị X là người đập bỏ bức tường này và ông H2 đã xây lại trên đúng vị trí bức tường cũ, không có bất cứ hành vi xây dựng lấn chiếm sang thửa đất của bà X. Do đó yêu cầu của nguyên đơn buộc ông H2 phải trả lại diện tích 465m² đất đã lấn chiếm và phải phá dỡ bức tường xây ngăn cách giữa 02 thửa đất là không có cơ sở.
2.3. Đối với yêu cầu bồi thường của nguyên đơn: Bà X yêu cầu ông H2 bồi thường số tiền 50.818.500 đồng là các khoản: Bồi thường thiệt hại do phá tường bao trên thửa đất, chi phí đi lại, chi phí chuyển phát nhanh, kinh phí đo lại đất, phí công chứng giấy tờ và tổn thất về tỉnh thần. Tuy nhiên phía nguyên đơn không cung cấp được các tài liệu chứng cứ chứng minh thiệt hại nên không được chấp nhận.
2.4. Tại giai đoạn phúc thẩm, ông Thái H2 đã rút toàn bộ yêu cầu phản tố về việc đề nghị Toà án huỷ GCNQSDĐ do UBND huyện L, tỉnh Hoà Bình cấp ngày 08/6/1999 cho ông Phí Văn T2 và yêu cầu bà X bồi thường thiệt hại do đã phá bức tường ngăn giữa đất của ông H2 và ông T2. Việc rút yêu cầu phản tố là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật nên cần đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu này.
2.5. Đối với yêu cầu của bị đơn đề nghị được công nhận diện tích 465,8m² đất (theo hiện trạng) thuộc quyền sử dụng của ông Thái H2. Nhận thấy nội dung này chưa được quyết định tại bản án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
2.6. Đối với bức tường do bà X xây dựng năm 2021 bao quanh diện tích đất tranh chấp có chiều dài 75,19m. Xét thấy bức tường trên là do bà X tự ý xây dựng, không nằm trên diện tích thuộc quyền sử dụng đất của bà X nên cần buộc phải phá dỡ, di dời.
[3] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X; Chấp nhận 01 phần kháng cáo của bị đơn ông Thái H2; Sửa bản án sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 19/3/2025 của Tòa án nhân dân huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ).
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
[5] Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không được chấp nhận nên bà X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
- Án phí dân sự phúc thẩm: Bản án sơ thẩm bị sửa một phần nên người kháng cáo nguyên đơn, bị đơn không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309; Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X.
2. Chấp nhận một phần kháng cáo của bị đơn ông Thái H2. Sửa một phần Bản án sơ thẩm số: 03/2025/DS-ST ngày 19/3/2025 của TAND huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình (nay là Tòa án nhân dân khu vực 13 - Phú Thọ). Cụ thể:
Căn cứ khoản 9 Điều 26, điểm a, khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, Điều 34, Điều 147, khoản 1 Điều 157, Điều 165, 217, 218, 273, 280, 289 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 175, Điều 441, Điều 501 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 170, Điều 202, Điều 203 Luật Đất đai năm 2013;
Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị X về việc: K đòi ông Thái H2 phải trả lại diện tích 465,8m² đất đã lấn chiếm; Buộc ông H2 phải tháo dỡ, di chuyển toàn bộ bức tường bao đã xây dựng trái phép ra khỏi thửa đất và phải bồi thường cho bà X số tiền 50.818.500 đồng (Năm mươi triệu tám trăm mười tám nghìn năm trăm đồng).
- Đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu phản tố của bị đơn ông Thái H2 về việc: Đề nghị Toà án huỷ GCNQSDĐ do UBND huyện L, tỉnh Hoà Bình cấp ngày 08/6/1999 cho ông Phí Văn T2 và yêu cầu bà X bồi thường thiệt hại do đã phá bức tường ngăn giữa đất của ông H2 và ông T2.
- Buộc bà Nguyễn Thị X phải tháo dỡ bức tường xây có tổng chiều dài là 75,19m, gồm các đoạn: phía Bắc giáp sân golf, phía Nam giáp đường bê tông và phía Tây giáp thửa đất số 32 + khu tái định cư (có sơ đồ kèm theo).
- Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quản lý về đất đai chỉnh lý GCNQSDĐ số 00061 QSDĐ/182/UBH do UBND huyện L cấp ngày 08/6/1999 mang tên hộ ông Phí Văn T2, đã sang tên trang 4 bà Nguyễn Thị X ngày 22/12/2020 theo quy định của pháp luật.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị X phải nộp 2.841.000đ (Hai triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nay được đối trừ vào số tiền bà X đã nộp tạm ứng 5.000.000đ (Năm triệu đồng), theo Biên lai số 0005371 ngày 30/11/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lương Sơn. Hoàn trả lại cho bà X số tiền 2.159.000₫ (Hai triệu một trăm năm mươi chín nghìn đồng).
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết kháng cáo, kháng nghị.
4. Án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 29 Nghị Quyết 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Các đương sự không phải nộp án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả bà Nguyễn Thị X số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng), tiền tạm ứng án phí theo Biên lai số 0005 241 đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hòa Bình ngày 22/4/2025.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án (Ngày 16/01/2026).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Trường Sơn |
Bản án số 11/2025/DS-PT ngày 16/01/2026 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
- Số bản án: 11/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/01/2026
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và bồi thường thiệt hại”. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Xuân Bị đơn: Ông Thái Hòa,
