|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH Bản án số: 11/2025/HNGĐ-ST Ngày 12 tháng 12 năm 2025 V/v “Tr/c Hôn nhân và gia đình” |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do -Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 - BẮC NINH
Với thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
- Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quang Tuyến và bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nụ - Thư ký TAND khu vực 8 – Bắc Ninh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Đỗ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 8 - Bắc Ninh mở phiên toà công khai xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 01/2025/TLST- HNGĐ ngày 01 tháng 10 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2025/QĐXXST- HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 08 ngày 27/11/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Trịnh Thị C, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
HKTT: Long Linh N, xã X, tỉnh Thanh Hóa
Hiện trú tại: Thôn Q, xã C, tỉnh Bắc Ninh
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
HKTT: Long Linh N, xã X, tỉnh Thanh Hóa
Hiện trú tại: Thôn Q, xã C, tỉnh Bắc Ninh
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và các lời khai tại Tòa án, nguyên đơn là chị Trịnh Thị C trình bày:
Về quan hệ vợ chồng: Chị và anh Nguyễn Quang T được hai gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương vào ngày 29/4/2014. Trước khi cưới, anh chị được tự nguyện tìm hiểu và được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật. Sau ngày cưới, vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Sau đó, anh chị đến tỉnh Bắc Ninh làm ăn và sinh sống ở đây từ đó cho đến nay. Trong thời gian ở xã C, tỉnh Bắc Ninh, vợ chồng chị vẫn có cuộc sống bình thường. Từ năm 2023 thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, do anh T chơi bời, có quan hệ bất chính với người khác, không quan tâm đến gia đình và hay đánh đập, chởi bới vợ con. Anh T đã nhiều lần đánh và đe dọa chị, chị đã phải báo Công an xã C để giải quyết. Anh T đã phải viết bản tường trình tại Công an xã C nhưng sau đó thì anh T không sửa đổi và vẫn nhiều lần hành hung, đe dọa chị. Nay chị nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Quang T.
- Về con chung: Trong thời gian chung sống, anh chị sinh được 02 con chung là cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 16/12/2015 và cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 22/9/2021. Hiện hai con đang ở với chị. Khi ly hôn, chị xin nuôi cháu Nguyễn Anh T1 còn cháu Nguyễn Quang Hải Đ giao cho anh T nuôi dưỡng. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết và hai bên đều có quyền đi lại thăm nom con chung.
- Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh T vắng mặt không có lý do. Tòa án đã tiến hành xác minh tại địa phương, ông Nguyễn Đức T2 là trưởng thôn Q cho biết:
Chị Trịnh Thị C và anh Nguyễn Quang T là người địa phương khác chuyển đến thôn Q, xã C, tỉnh Bắc Ninh sinh sống từ năm 2014. Từ khi anh T và chị C chuyển đến thì cuộc sống vợ chồng ổn định, bình thường. Tuy nhiên, khoảng vài tháng trở lại đây, chị C và anh T có phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân cụ thể thì ông không biết nhưng có nghe nói là do anh T có quan hệ bất chính với người khác dẫn đến cuộc sống hôn nhân không hòa thuận và hạnh phúc. Hiện tại vợ chồng anh T và chị C cùng hai con vẫn sinh sống ở địa phương và được địa phương quản lý về cư trú. Ông xác nhận việc Tòa án đã về địa phương giao giấy báo cho anh T nhiều lần và ông là người có trách nhiệm giao cho anh T theo yêu cầu của Tòa án.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã mở phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh T đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành hòa giải và tiếp cận công khai chứng cứ với anh T được. Quá trình giải quyết, chị Trịnh Thị C giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn với anh Nguyễn Quang T và đề nghị được giao nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Anh T1, sinh ngày 22/9/2021 còn anh T nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 16/12/2015. Cấp dưỡng nuôi con, chị không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 8, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà nhận xét:
Về tố tụng: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án; Việc thu thập chứng cứ đầy đủ, khách quan, đảm bảo trình tự thủ tục tố tụng dân sự. Thư ký phiên tòa thực hiện đúng các quy định tại Điều 51 Bộ luật tố tụng dân sự.
Tại phiên toà HĐXX đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo nguyên tắc xét xử công khai bằng lời nói và liên tục.
Nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án đến phiên tòa hôm nay đã thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn không thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án, anh Nguyễn Quang T đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ theo quy định tại Điều 177 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã được giao giấy triệu tập phiên tòa lần 2 nhưng anh T không có mặt. Chị Trịnh Thị C có đơn xin xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung: Chị Trịnh Thị C và anh Nguyễn Quang T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được UBND xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa (cũ) cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 29/4/2014. Việc kết hôn đảm bảo mọi điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, anh chị chuyển đến thôn Q, xã C, tỉnh Bắc Ninh sinh sống và làm việc từ đó cho đến nay. Cuộc sống hôn nhân của anh chị diễn ra bình thường cho đến năm 2023 thì vợ chồng chị bắt đầu phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân, theo chị C trình bày là do anh T chơi bời, có quan hệ bất chính với người khác, không quan tâm đến gia đình và hay đánh đập, chởi bới vợ con. Anh T đã nhiều lần đánh và đe dọa chị, chị đã phải báo Công an xã C để giải quyết. Anh T đã phải viết bản tường trình tại Công an xã C. Quá trình giải quyết, mặc dù anh T đã được tống đạt giấy báo hợp lệ, biết được việc chị C làm đơn ly hôn, được nhận các thông báo của Tòa án nhưng cố tình vắng mặt, không đưa ra lời khai, cung cấp chứng cứ chứng minh về mâu thuẫn vợ chồng. Do vậy, Tòa án căn cứ vào lời trình bày, tài liệu của chị C cung cấp, cũng như việc xác minh tại địa phương để làm cơ sở giải quyết vụ án.
Việc anh Nguyễn Quang T cố tình vắng mặt, chứng tỏ anh T cũng mặc nhiên và không còn quan tâm gì đến hạnh phúc gia đình. Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Trịnh Thị C và anh Nguyễn Quang T là có thật trên thực tế, được chị C xác nhận tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị C là hoàn toàn phù hợp với thực tế cuộc sống vợ chồng, phù hợp với các quy định của pháp luật nên cần chấp nhận.
Về con chung: Trong thời gian chung sống, chị Trịnh Thị C và anh Nguyễn Quang T sinh được 02 con chung là cháu Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 16/12/2015 và cháu Nguyễn Anh T1, sinh ngày 22/9/2021. Khi ly hôn, chị đề nghị được nuôi cháu Anh T1 do cháu còn nhỏ và cần sự chăm sóc của mẹ hơn, còn anh T nuôi dưỡng cháu Hải Đ. Cấp dưỡng nuôi con, không đặt ra giải quyết.
Nhận thấy, ý kiến của chị C là phù hợp với thực trạng nuôi dưỡng, bảo đảm được quyền và trách nhiệm của bố, mẹ với các con chưa thành niên. Ngoài ra, cháu Hải Đ có nguyện vọng được ở với anh T. Mặc dù anh T không có ý kiến về việc nuôi dưỡng con chung nhưng thông qua thực trạng nuôi dưỡng hiện tại, ý kiến của chị C và con chung trên 7 tuổi nên cần giao cháu Hải Đ cho anh T nuôi dưỡng, chăm sóc là phù hợp. Giao cháu Anh T1 cho chị C nuôi dương và chăm sóc. Cấp dưỡng nuôi con, chị C không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Các đương sự không có yêu cầu nên Tòa án không đề cập giải quyết.
Án phí: Đương sự phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng: Khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39, 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Điều 26, 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
Về quan hệ vợ chồng: Chị Trịnh Thị C được ly hôn với anh Nguyễn Quang T.
Về con chung: Giao con chung Nguyễn Anh T1, sinh ngày 22/9/2021 cho chị Trịnh Thị C tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Giao con chung là Nguyễn Quang Hải Đ, sinh ngày 16/12/2015 cho anh Nguyễn Quang T nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Cấp dưỡng nuôi con không đặt ra giải quyết. Anh T và chị C có quyền đi lại thăm nom con chung theo quy định của pháp luật và không ai được cản trở anh, chị thực hiện quyền này.
Về tài sản chung, công nợ, công sức: Không đề cập giải quyết.
Án phí: Chị Trịnh Thị C phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị C đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí tại biên lai số 0000935 ngày 01/10/2025 của Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hoặc niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-ST ngày 12/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH về tranh chấp hôn nhân và gia đình
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 8 – BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trịnh Thị C-Nguyễn Quang T - Ly hôn
