TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 11/2025/HNGĐ - ST Ngày 20 - 6 - 2025 V/v ly hôn, nuôi con chung. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân: ÔngNguyễn Văn An và bà Đỗ Thị Phương Thuý
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Nhung - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Ông Phùng Ngọc Tuấn – Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 24/2024/TLST- HNGĐ ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con chung, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST - HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bích H, sinh năm 1993
Nơi ĐKHTTT: Khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Địa chỉ hiện nay: Số A -2-4, đường S, khu Q, thành phố Đ, Đài Loan, Trung Quốc (có đơn xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H1, sinh năm 1988;
Địa chỉ: Thôn D, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc (có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2024 và lời khai tiếp theo, nguyên đơn là chị Nguyễn Thị Bích H trình bày:
Về tình cảm chung vợ chồng: Chị và anh Nguyễn Văn H1 tự nguyện đến với nhau và có đăng ký kết hôn ngày 23/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Sau khi kết hôn, anh chị chung sống với nhau tại nhà anh H1 ở xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Một thời gian sau, anh chị chuyển về nhà mẹ đẻ chị ở tại khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ để tiện công việc của chị. Vợ chồng chung sống hoà thuận sau đó đến tháng 5/2017, chị sang nước ngoài làm ăn. Do điều kiện môi trường làm việc có nhiều thay đổi và khoảng cách về địa lý nên vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm. Năm 2020, anh H1 không may bị tai nạn giao thông, sức khỏe suy yếu, anh đã chuyển về ở chung cùng bố mẹ anh ở thôn D, xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, chị đề nghị Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc giải quyết cho chị được ly hôn với anh H1.
Về con chung: Anh chị có 02 con chung là: Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 13/12/2012 và Nguyễn Hà M, sinh ngày 20/8/2015. Hiện nay cả hai cháu đang ở cùng bố mẹ chị là ông Nguyễn Mạnh H3 và bà Nguyễn Thị Thúy H4 tại khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ. Ly hôn chị đề nghị Toà án giải quyết giao cả hai cháu cho chị được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Do hiện nay chị đang làm việc tại Đài Loan, thỉnh thoảng về Việt Nam nên chị nhờ bố mẹ chị thay chị nuôi dưỡng các cháu trong thời gian chị không có mặt tại Việt Nam. Về cấp dưỡng nuôi con chung, chị không yêu cầu anh H1 cấp dưỡng vì anh ốm đau, bệnh tật.
Về tài sản chung, công nợ và các vấn đề khác liên quan đến tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Do điều kiện công việc hiện nay chị H đang lao động tại Đài Loan nên chị đã có đơn đề nghị Toà án xem xét, giải quyết, xét xử vắng mặt chị và chị uỷ quyền cho Công ty L và cộng sự, cử người giao nộp các tài liệu, chứng cứ, nhận các giấy tờ, văn bản tố tụng của Toà án.
Bị đơn là anh Nguyễn Văn H1 tuy vắng mặt tại phiên toà nhưng tại Biên bản lấy lời khai ngày 28/3/2025, anh H1 trình bày:
Về tình cảm vợ chồng: Anh thừa nhận về điều kiện kết hôn, quá trình chung sống như chị H trình bày tại Đơn xin ly hôn là đúng. Năm 2020, anh bị tai nạn giao thông, chị H tiếp tục sang Đài Loan làm ăn cũng không qua lại chăm sóc gì đối với anh. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị H xin ly hôn, anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn nên anh cũng nhất trí ly hôn.
Về con chung: Cợ chồng có 02 con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 13/12/2012 và Nguyễn Hà M, sinh ngày 20/8/2015. Hiện nay cả hai cháu đang ở cùng bố mẹ chị H. Nếu tòa giải quyết ly hôn, anh cũng nhất trí để chị H tiếp tục nuôi dưỡng cả hai cháu, anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì hiện nay anh ốm đau bệnh tật không có khả năng chăm sóc và nuôi dưỡng hai con chung. Hiện nay chị H đang ở Đài Loan nên chị H có thể nhờ ông H3, bà H4 (là bố mẹ đẻ của chị H) hỗ trợ việc chăm sóc, nuôi dưỡng các con thay chị H trong thời gian chị H đi vắng, quan điểm của anh cũng đồng ý vì hiện nay các cháu vẫn đang ở cùng ông bà ngoại và vẫn phát triển tốt về mọi mặt.
Về tài sản chung, công nợ, các vấn đề khác liên quan đến tài sản: Anh xác định không có và không yêu cầu Tòa giải quyết.
Do điều kiện sức khoẻ không được đảm bảo nên anh đề nghị Toà án giải quyết, xét xử vắng mặt anh.
Quá trình giải quyết, tòa án có lấy lời khai cháu Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 13/12/2012 và Nguyễn Hà M, sinh ngày 20/8/2015. Các cháu đều trình bày đang ở cùng ông bà ngoại và mẹ cháu vẫn về thăm và gửi tiền về nuôi các cháu. Nếu tòa án giải quyết bô mẹ cháu ly hôn, các cháu có nguyện vọng được ở cùng mẹ. Hiện nay mẹ chưa về Việt Nam thì các cháu tiếp tục ở cùng ông bà ngoại. Tòa án cũng lấy lời khai ông Nguyễn Mạnh H3 và bà Nguyễn Thị Thúy H4 (tại khu C, xã C, huyện L, tỉnh Phú Thọ) là bố mẹ chị H. Ông H3 và bà H4 đều bày tỏ quan điểm: Nếu Toà án giao cho chị H được nuôi các con là cháu M và cháu H2 thì ông bà nhất trí tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và chăm sóc các cháu cho đến khi chị H về Việt Nam và đón các cháu. Hiện nay 02 cháu đang ở cùng ông bà và các cháu học tập và phát triển tốt về mọi mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc phát biểu:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đảm bảo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về đường lối giải quyết vụ án:
+ Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
+ Xử giao cho chị H được chăm sóc, nuôi dưỡng 02 cháu cháu Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 13/12/2012 và Nguyễn Hà M, sinh ngày 20/8/2015. Hiện nay cả hai cháu đang ở cùng ông bà ngoại (là bố mẹ đẻ chị H). Anh H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Chị H, anh H1 không đề nghị giải quyết nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Chị Nguyễn Thị Bích H đang ở tại Đài Loan nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc theo qui định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về việc giải quyết vắng mặt đương sự: Nguyên đơn, bị đơn đều có đơn xin giải quyết vắng mặt. Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Toà án tiến hành xét xử vắng mặt chị H, anh H1.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị H và anh H1 đăng ký kết hôn ngày 23/11/2011 tại Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện S, tỉnh Vĩnh Phúc trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, đây là cuộc hôn nhân hợp pháp. Cuộc sống vợ chồng ban đầu hạnh phúc, về sau phát sinh mâu thuẫn do bất dồng quan điểm nhất là khi chị H đi làm ăn ở Đài Loan và anh H1 bị tai nạn giao thông suy giảm về sức khỏe. Anh chị sống ly thân từ năm 2020 đến nay. Nay chị H xin ly hôn, anh H1 cũng nhất trí ly hôn. Hội đồng xét xử thấy: Mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H theo quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình là phù hợp.
[2.2] Về con chung: Chị H và anh H1 có hai con chung là cháu Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 13/12/2012 và Nguyễn Hà M, sinh ngày 20/8/2015. Hiện nay cả hai cháu đang ở cùng bố mẹ đẻ chị H là ông Nguyễn Mạnh H3 và bà Nguyễn Thị Thúy H4. Ly hôn, chị H và anh H1 đều đề nghị Toà án giải quyết giao cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cả hai cháu. Tuy nhiên, do hiện nay chị H đang làm việc ở Đài Loan nên chị đã nhờ bố mẹ của chị là ông Nguyễn Mạnh H3 và bà Nguyễn Thị Thúy H4 chăm sóc, nuôi dưỡng cháu H2, cháu M trong thời gian chị không có mặt tại Việt Nam. Xét nguyện vọng của các cháu H2, cháu M đều mong muốn ở với mẹ và tiếp tục ở cùng ông bà ngoại cũng như quan điểm của ông H3, bà H4 đều nhất trí tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng và chăm sóc các cháu cho đến khi chị H về Việt Nam và đón các cháu. Hiên tại, anh H1 đang dần phục hồi sức khỏe nên không đủ khả năng chăm sóc các con. Vì vậy, cần xét xử giao cháu Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 13/12/2012 và Nguyễn Hà M, sinh ngày 20/8/2015 cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H, anh H1 không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[2.3] Về tài sản, công nợ và công sức: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3] Những quan điểm về giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên được chấp nhận.
[4] Về án phí sơ thẩm: Chị H phải chịu án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, và Điều 127 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 4 Điều 147, Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, xử:
- Về hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Bích H được ly hôn anh Nguyễn Văn H1.
- Về con chung: Giao chị Nguyễn Thị Bích H được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Ngọc H2, sinh ngày 13/12/2012 và cháu Nguyễn Hà M, sinh ngày 20/8/2015. Anh Nguyễn Văn H1 không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, công nợ và công sức: Không xem xét, giải quyết.
- Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
- Chị Nguyễn Thị Bích H phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn nhưng được trừ vào số tiền 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0007497 ngày 12/12/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc. Chị H đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Đương sự cư trú ở nước ngoài, không có mặt tại phiên tòa được kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 11/2025/HNGĐ - ST ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về ly hôn, nuôi con chung
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: ly hôn, nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hôn nhân gia đình, phân chia con chung
