|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số:11 /2025/HNGĐ-PT Ngày: 20/6/2025. V/v tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Nữ Phà Ca
Các Thẩm phán: 1. Ông Nguyễn Thành Đăng
2. Bà Nguyễn Thị Kim Chi
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Vân Khanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Bích - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 20 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 14/2025/TLPT-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2025 về việc: “Tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn”
Do bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 14/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 6 năm 2025, giữa các đương sự:
- * Nguyên đơn: Ông Nguyễn Công T
- Địa chỉ: Ấp T, xã Q, huyện V, tỉnh Vĩnh Long
- * Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thu S
- Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- 1. Ông Nguyễn Văn N, sinh năm 1957
- 2. Bà Phạm Thị Kim K, sinh năm 1964
- Cùng địa chỉ; Ấp C, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Long
- * Người kháng cáo: Nguyên đơn ông Nguyễn Công T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên toà sơ thẩm nguyên đơn ông Nguyễn Công T trình bày:
Tại Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 130/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm giữa ông T và bà S đã quyết định về con chung của ông bà là cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 12/11/2020 giao cho bà S được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục, ông T không phải cấp dưỡng, nhưng thỉnh thoảng vẫn mua sắm đồ dùng sinh hoạt cho con. Tuy nhiên, từ khi ly hôn đến nay, mỗi lần ông T đến thăm con thường bị bà S và gia đình bà S gây khó khăn, cản trở. Ông đã từng nhờ chính quyền địa phương giải quyết, ban N2 có tổ chức hòa giải ngày 13/3/2023, nhưng ông T vẫn bị cản trở quyền thăm con chung.
Ngày 31/3/2023, ông T làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm xin thay đổi quyền nuôi con. Sau nhiều lần hòa giải, đến lần hòa giải cuối cùng vào ngày 27/5/2024, ông T và bà S thỏa thuận việc thăm, chăm sóc con được thực hiện đúng theo quy định tại Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 130/121/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm.
Tuy vậy, thời gian gần đây, việc thăm nom, chăm sóc con của ông T tiếp tục bị bà S và gia đình gây khó khăn, trở ngại. Hiện tại, cháu Nguyễn Thiên  đã được bà S giao cho ông bà ngoại nuôi dưỡng, và người nuôi dưỡng trực tiếp là người em vợ tên N1, tuy nhiên, tình trạng tinh thần của N1 không tốt.
Ngày 16/12/2024, ông T có nộp 01 thẻ USB có đoạn ghi âm thể hiện việc bà S và gia đình cản trợ việc ông T thăm nom và chăm sóc con, kèm theo đó là bản khai ý kiến về nội dung này.
Về điều kiện chăm sóc của ông T, hiện tại ông T đang mua bán chanh và tắc tại xã Q, thu nhập 30.000.000 đồng/tháng, ngoài ra, ông có cha mẹ hỗ trợ và gia đình ông gần trường học nên ông có đủ điều kiện để trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Nguyễn Thiên Â.
Vì vậy, ông T yêu cầu được thay đổi quyền nuôi con, cụ thể, giao con chung là cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 12/11/2020 cho ông T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
* Tại bản khai ý kiến ngày 04/12/2024, trong quá trình tham gia tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Nguyễn Thị Thu S trình bày:
Bà S thống nhất với lời trình bày của ông T về quan hệ hôn nhân hiện tại của cả hai và Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 130/2021/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm. Hiện tại, bà S đang học nghề làm tóc, thu nhập 6.000.000 đồng/tháng. Cháu Nguyễn Thiên  do bà S trực tiếp nuôi dưỡng, đồng thời, có ông bà ngoại và em trai của bà S hỗ trợ chăm sóc. Bà S thừa nhận, thỉnh thoảng, ông Trương V có cấp dưỡng nuôi con.
Bà S và gia đình chỉ cản trở việc ông T thăm nom, chăm sóc cháu Thiên  khi cháu bị bệnh hoặc vào những lúc cháu ngủ vì ông T đã lạm dụng việc thăm nom con gây ảnh hưởng đến việc nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục thậm chí là sức khỏe của cháu Nguyễn Thiên Â.
Đối với đoạn ghi âm trong thẻ USB mà ông T cung cấp thì không phải giọng nói của bà S và gia đình. Ngoài ra, bà S không đồng ý cung cấp giọng nói mẫu của bà và gia đình để thực hiện việc giám định giọng nói.
Cháu Nguyễn Thiên  đã sống cùng bà S và gia đình từ bé nên bà S không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T về việc thay đổi quyền nuôi con, vì việc này sẽ gây xáo trộn hoàn cảnh sống, gây ảnh hưởng xấu đến thể chất và tâm lý của cháu Â.
* Tại bản khai ý kiến ngày 26/12/2024, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn N và bà Phạm Thị Kim K trình bày:
Ông N và bà K là cha mẹ của bà S và là ông bà ngoại của cháu Nguyễn Thiên Â. Sau khi bà S và ông T ly hôn, cháu Nguyễn Thiên  do bà S và ông N bà K nuôi dưỡng. Ông T thường xuyên đến thăm cháu  vào những giờ sinh hoạt của cháu như giờ ăn cơm, giờ ngủ trưa, gây ảnh hưởng đến thói quen sinh hoạt và sức khỏe của cháu Â. Ông T cũng không cùng chăm sóc cháu  khi cháu bệnh. Do vậy, ông N bà K không hài lòng, nên khi ông T đến thăm nom cháu Â, ông bà có cãi vã với ông T nhưng giọng nói trong đoạn ghi âm mà ông T cung cấp không phải của ông N, bà K và ông N, bà K cũng không yêu cầu giám định giọng nói đối với đoạn ghi âm này.
* Tại bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long đã quyết định:
Căn cứ vào Điều 28; khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39; Điều 147 và 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 82 và 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm thu nộp quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Nghị quyết 01/2024/NQ-HĐTP ngày 16/5/2024 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao;
Tuyên xử,
1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công T về việc thay đổi quyền trực tiếp nuôi con đối với cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 12/11/2020.
2. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm:
Buộc ông Nguyễn Công T nộp số tiền là: 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng); Được khấu trừ vào số tiền nộp tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0009465 ngày 22/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của đương sự theo luật định.
Tại đơn kháng cáo ngày 28/4/2025 ông Nguyễn Công T yêu cầu:
Sửa bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông về việc thay đổi quyền nuôi con, giao cháu Nguyễn Thiên  cho ông Nguyễn Công T trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T cam kết thực hiện quyền chăm sóc, nuôi dưỡng con theo đúng quy định của pháp luật, đến khi cháu  trưởng thành, ông T sẽ tôn trọng nguyện vọng của cháu về việc sống với cha hay mẹ.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu thay đổi quyền nuôi con, giao cháu Nguyễn Thiên  cho ông Nguyễn Công T trực tiếp nuôi dưỡng. Lý do: Từ khi giao cháu  cho bà S nuôi dưỡng thì bà S không trực tiếp nuôi dưỡng mà giao cháu  cho ông bà ngoại là ông N, bà K nuôi. Mỗi lần ông T đến thăm cháu  ông N, bà K ngăn cấm.
Bị đơn bà S không đồng ý giao cháu  cho ông T nuôi dưỡng. Hiện nay bà đã về quê sinh sống và trực tiếp nuôi dưỡng cháu Â. Gia đình bà luôn tạo điều kiện thuận lợi cho ông T tới lui chăm sóc con chung.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng: Tất cả đều tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ khi thụ lý vụ án đến khi xét xử phúc thẩm.
Về nội dung: Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông T. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí dân sự phúc thẩm: Nguyên đơn ông T phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét ông T khởi kiện và kháng cáo yêu cầu được thay đổi quyền nuôi con, giao con chung là cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 12/11/2020 cho ông Nguyễn Công T là người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 130/121/QĐST-HNGĐ ngày 27/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm thể hiện ông T, bà S thỏa thuận giao cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 12/11/2020 cho bà S nuôi dưỡng.
Căn cứ Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn như sau: Cha, mẹ có thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con; Người trực tiếp nuôi con không còn đủ điều kiện trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Ông T kháng cáo yêu cầu thay đổi việc nuôi con chung lý do hiện nay bà S không trực tiếp nuôi dưỡng cháu  mà giao cháu  giao cho ông bà ngoại là ông N, bà K nuôi dưỡng và mỗi lần ông T đến thăm cháu  thì ông N, bà K ngăn cấm không cho ông thăm cháu Â. Ông T cung cấp USB ghi âm lời nói bà S trong quá trình ông đến thăm cháu Â, bà S đã không tạo điều kiện cho ông gặp cháu  và yêu cầu ông T phải xin phép ông Nguyễn Văn N (cha bà S) và anh N1 (em bà S).
Tại phiên tòa, bà S cho rằng hiện nay công việc bà ổn định, hiện bà trực tiếp nuôi dưỡng cháu  và gia đình bà S luôn tạo điều kiện cho ông T tới lui chăm sóc cháu  nhưng thời điểm ông T đến thăm cháu không phù hợp đã ảnh hưởng cuộc sống bình thường cháu Â.
Căn cứ Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó và tại Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Tại Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007 quy định hành vi ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau là một trong những hành vi bạo lực gia đình và tại Điều 56 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình quy định: “Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với hành vi ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con, trừ trường hợp cha mẹ bị hạn chế quyền thăm nom con theo quyết định của Tòa án; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau.”
Do đó, bà S, ông T cùng các thành viên trong gia đình bà S như ông N, bà K và anh N1 phải chấp hành đúng quy định pháp luật và bảo đảm cháu  được cả cha và mẹ cùng chăm sóc, nuôi dưỡng để phát triển bình thường như những trẻ em khác, giảm thiểu tổn thương cho cháu Â.
Xét hiện tại, bà S vẫn đủ điều kiện nuôi dưỡng cháu Â, việc này được thể hiện thông qua phiếu lương mà bà đã cung cấp cho Tòa ở cấp sơ thẩm và tại phiên tòa bà xác đinh hiện nay có công việc ổn định gần nhà, ông T cũng thừa nhận cháu  được bà S chăm sóc đầy đủ và cháu  phát triển tốt. Ông T kháng cáo yêu cầu được thay đổi quyền nuôi con, giao con chung là cháu Nguyễn Thiên  cho ông T nuôi dưỡng nhưng ông T không cung cấp chứng cứ chứng minh bà S không đủ điều kiện để trực tiếp nuôi dưỡng cháu Â. Do vậy, không có căn cứ để thay đổi người trực tiếp nuôi con quy định tại Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.
Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông T. Án sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công T về việc thay đổi quyền trực tiếp nuôi con đối với cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 12/11/2020 là có căn cứ.
[2] Về án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm: Nguyên đơn ông Nguyễn Công T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm 300.000 đồng. Số tiền trên ông T đã tạm ứng xong nên sẽ được khấu trừ.
[3] Những quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị Hội đồng xét xử không giải quyết và có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015; Điều 26, Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định án phí và lệ phí Tòa án;
Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn ông Nguyễn Công T. Giữ nguyên bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 51/2025/HNGĐ-ST ngày 15 tháng 04 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long.
Áp dụng các Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 2 Luật Phòng chống bạo lực gia đình 2007; Điều 56 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy, chữa cháy; cứu nạn, cứu hộ; phòng, chống bạo lực gia đình.
Tuyên xử:
1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công T về việc thay đổi quyền trực tiếp nuôi con đối với cháu Nguyễn Thiên Â, sinh ngày 12/11/2020.
Ông T có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
2/. Về án phí hôn nhân và gia đình:
Nguyên đơn ông Nguyễn Công T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình phúc thẩm 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Số tiền trên ông T đã tạm ứng xong theo biên lai thu số 10097 ngày 28/4/2025 của Chi Cục thi hành án dân sự huyện Vũng Liêm, tỉnh Vĩnh Long, nên sẽ được khấu trừ.
3/. Những quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận: - TANDTC + VKSNDTC: 02; - TANDCC + VKSNDCC: 02; - VKSND TVL: 02; - TAND HVL: 01; - Cục THADS TVL: 01; - Chi Cục THADS HVL: 01; - Đương sự: 04; - Lưu VP: 01; - Phòng KTNV&THA: 01; - Lưu: 04. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA Sơn Nữ Phà Ca |
Bản án số 11/2025/HNGĐ-PT ngày 20/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG về tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn
- Số bản án: 11/2025/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thay đổi quyền nuôi con sau khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 20/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1/. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Công Trường về việc thay đổi quyền trực tiếp nuôi con đối với cháu Nguyễn Thiên Ân, sinh ngày 12/11/2020. Ông Trường có quyền trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền cản trở.
