TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 17-6-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thu Hạnh.
Ông Trần Thanh Lịch.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thúy Hằng – Thư ký viên Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên Tòa:
Ông Hoàng Văn Vì - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 06/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 08/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Hữu T
(tên gọi khác: không có), sinh ngày 16/4/1988, tại Quảng Trị; nơi ĐKNKTT và nơi ở: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị. Nghề nghiệp: Thợ mộc; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần K; sinh năm: 1960, con bà Võ Thị L; sinh năm: 1964, trú tại: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; vợ: Nguyễn Thị H; sinh năm: 1997; con: Có 02 con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2017.
Tiền án; tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 31/12/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Phân trại tạm giam khu vực thị xã Q. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 15 phút ngày 31/12/2024, tại đoạn đường P khu vực phía trước nhà nghỉ D thuộc Khu phố D, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Tổ công tác Công an thị xã Q phát hiện Trần Hữu T điều khiển xe mô tô BKS 74D1-083.12 di chuyển dọc đường P hướng từ cầu T vào đường H có biểu hiện nghi vấn nên ra tín hiệu dừng xe kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Trần Hữu T lấy một vật được cuốn bằng băng keo màu đen từ Baga giữa của xe mô tô giao cho lực lượng chức năng. Tiến hành kiểm tra cuộn băng keo màu đen phát hiện bên trong có 01 đoạn vỏ kẹo bằng nilon màu xanh chứa 40 viên nén màu hồng. Trần Hữu T khai nhận là ma túy tổng hợp loại hồng phiến, T mua của một người đàn ông tên thường gọi là “Tèo” (không rõ lai lịch, địa chỉ cụ thể) tại khu vực đường đất đỏ cắt ngang với đường H, thành phố Đ nối dài thuộc địa phận huyện T, tỉnh Quảng Trị với giá 1.000.000 đồng để sử dụng. Lực lượng chức năng đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Hữu T và thu giữ phương tiện, đồ vật liên quan. Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Hữu T, lực lượng chức năng thu giữ thêm 01 túi nilon chứa 08 viên nén màu hồng tại khu vực phòng bếp, T khai nhận là ma túy tổng hợp đã mua của người đàn ông tên “Tèo” trước đó vào ngày 28/12/2024 để sử dụng nhưng chưa sử dụng hết.
Tại bản Kết luận giám định số 146/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q, kết luận:
- + Mẫu 40 viên nén màu hồng được niêm trong túi niêm phong ký hiệu NS3 2141739 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 3,79g.
- + Mẫu 08 viên nén màu hồng được niêm trong túi niêm phong ký hiệu NS3 2141743 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,74g.
Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP, ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. (Bút lục số:49-52)
Vật chứng và tài sản thu giữ gồm:
- 01 đoạn băng keo màu đen kích thước (25x1,8) cm.
- 01 đoạn vỏ kẹo bằng nilon màu xanh kích thước (4,5x3,4)cm.
- 48 viên nén màu hồng (nghi là ma túy).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius màu đen bạc, BKS 74D1 - 083.12, số khung: C630CY690212, số máy: C63-690263.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu vàng, gắn 01 thẻ sim có số thuê bao 0935085157.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu SamSung A05 màu xanh đen, gắn 01 thẻ sim có số thuê bao 0777474425.
Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 74D1 - 083.12 thuộc sở hữu của ông Trần K (bố của Trần Hữu T), ông K không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã trả lại cho chủ sở hữu. Số vật chứng còn lại chuyển Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị bảo quản chờ xử lý.
Cáo trạng số 08/CT-VKS-TXQT ngày 20/5/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị đã truy tố bị cáo Trần Hữu T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Qua xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng tuyên bố bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt Trần Hữu T từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam.
Về vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị tịch thu tiêu hủy: Mẫu ma túy còn lại sau giám định 01( một) túi niêm phong có mã số MT 146 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm theo kết luận giám định số 146/KL- KTHS ngày 08/01/2025 của phòng K1 công an tỉnh Q); 01(một) túi niêm phong có mã số NS3A 0778868 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm theo kết luận giám định số 247/KL- KTHS ngày 24/01/2025 của phòng K1 công an tỉnh Q); 01(một) sim có số seri 8401210833575336 đã qua sử dụng. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05 màu xanh đen, đã qua sử dụng.
Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự đề nghị trả lại cho bị cáo: 01( một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu vàng; 01( một) sim có số seri 8401231024088376, đều đã qua sử dụng. Là vật chứng không liên quan đến vụ án.
Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q xác định xe mô tô BKS 74D1 - 083.12 thuộc sở hữu của ông Trần K, ông K không biết T sử dụng xe để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Q đã trả lại cho chủ sở hữu là đúng quy định pháp luật, ông Trần K không có ý kiến gì, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đề nghị tuyên bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì, thừa nhận hành vi phạm tội của mình và nhất trí với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa, quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị phù hợp các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có tại hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Vào ngày 31/12/2024 tại đoạn đường P khu vực phía trước nhà nghỉ D thuộc Khu phố D, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Tổ công tác Công an thị xã Q đã bắt quả tang Trần Hữu T tàng trữ 40 viên nén màu hồng nhằm mục đích để sử dụng và qua khám xét chỗ ở của Trần Hữu T tại thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị phát hiện 08 viên nén màu hồng tại khu vực phòng bếp do T mua vào ngày 28/12/2024 nhằm mục đích để sử dụng. Tại Bản kết luận giám định số 146/KL-KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh Q kết luận: 40 viên nén màu hồng được niêm trong túi niêm phong ký hiệu NS3 2141739 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 3,79g và 08 viên nén màu hồng được niêm trong túi niêm phong ký hiệu NS3 2141743 gửi đến giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng mẫu là 0,74g. Tổng khối lượng ma túy Trần Hữu T tàng trữ trái phép là 4,53 gam ma túy loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma túy nằm trong Danh mục IIC, STT: 247 Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy của bị cáo vào ngày 28/12/2024 và ngày 31/12/2024 nhằm mục đích để sử dụng, nên đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân nhân dân thị xã Q truy tố bị cáo Trần Hữu T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra vụ án, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo là người lao động chính, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, nên khi lượng hình cần xem xét đến hoàn cảnh gia đình cho bị cáo.
[4] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình là vi phạm pháp luật. Nhưng để thoả mãn về nhu cầu sử dụng ma tuý của mình nên bị cáo đã coi thường pháp luật, cố tình thực hiện hành vi phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý Nhà nước về chất ma túy, làm mất trật tự trị an, gây ảnh hưởng xấu đến dư luận quần chúng nhân dân sinh sống trên địa bàn. Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời gian nhất định mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống, ngăn ngừa phạm tội mới, phòng ngừa và đấu tranh phòng chống tội phạm.
[5] Về vấn đề khác:
Đối với người đàn ông tên T1 bán ma túy cho T, quá trình điều tra ngoài lời khai của T không có tài liệu khác để chứng minh người đàn ông này là ai nên khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Đối với ông Trần K không biết Trần Hữu T sử dụng xe mô BKS 74D1-083.12 để thực hiện hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý là có cơ sở.
[6] Về xử lý vật chứng:
Mẫu ma túy còn lại sau giám định 01( một) túi niêm phong có mã số MT 146 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q ( kèm theo kết luận giám định số 146/KL- KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K1 công an tỉnh Q); 01( một) túi niêm phong có mã số NS3A 0778868 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q( kèm theo kết luận giám định số 247/KL- KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K1 công an tỉnh Q); 01( một) sim có số seri 8401210833575336 đã qua sử dụng. Là vật không có giá trị sử dụng và cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.
01( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05 màu xanh đen, đã qua sử dụng. Là công cụ sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
01( một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu vàng; 01( một) sim có số seri 8401231024088376 đã qua sử dụng. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không dùng vào việc thực hiện hành vi phạm tội, nên cần trả lại cho bị cáo.
(Căn cứ điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự).
[7] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, xử lý vật chứng là có căn cứ cần chấp nhận.
[8] Hiện bị cáo Trần Hữu T đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam, cần tiếp tục ra quyết định tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo chấp hành án. (Căn cứ Điều 329 của Bộ luật Tố tụng hình sự).
[9] Về án phí: Bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trần Hữu T 05 (Năm) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 31/12/2024.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01( một) túi niêm phong có mã số MT 146 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm theo kết luận giám định số 146/KL- KTHS ngày 08/01/2025 của Phòng K1 công an tỉnh Q); 01( một) túi niêm phong có mã số NS3A 0778868 bên ngoài có chữ ký của những người tham gia niêm phong và hình dấu của Phòng K1 Công an tỉnh Q (kèm theo kết luận giám định số 247/KL- KTHS ngày 24/01/2025 của Phòng K1 công an tỉnh Q); 01( một) sim có số seri 8401210833575336 đã qua sử dụng.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01( một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A05 màu xanh đen, đã qua sử dụng.
Trả lại cho bị cáo: 01( một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A57 màu vàng; 01( một) sim có số seri 8401231024088376, đều đã qua sử dụng.
(Vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/06/2025 giữa Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy, Công an tỉnh Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị).
- Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, nộp án phí Tòa án. Buộc bị cáo Trần Hữu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Nơi nhận:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 17/06/2025 của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng rữ trái phép chất ma túy
