|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày: 27-02-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chuyên; ông Nguyễn Đức Bường
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hài - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025 tại Đ - Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và Đ cầu Thành phần tại Phòng 109 - Trụ sở Công an huyện K, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số 09/2025/TLST-HS ngày 23 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 14/02/2025, đối với bị cáo:
Nguyễn Thị H; sinh ngày 20/12/1998; giới tính: Nữ; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã K, huyện K, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Nguyễn Văn T và con bà Trần Thị Y; chồng là Vũ Văn T1, có 03 con.
Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 18/9/2016 bị Công an huyện K, tỉnh Thái Bình xử phạt vi phạm hành chính 1.000.000 đồng về hành vi “Cố ý gây thương tích”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/11/2024, bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T, bị cáo bị trích xuất có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Hồng Q, sinh năm 2008 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn Q, xã T, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Người chứng kiến:
- Ông Trần Đình M, sinh năm 1960 (vắng mặt)
- Anh Trần Hữu Đ1, sinh năm 1980 (vắng mặt)
Nơi cư trú: Thôn A, xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 28/10/2024, tại khu vực đường trước Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Công an huyện K phối hợp với Công an xã B, huyện K tuần tra, kiểm soát phát hiện anh Nguyễn Hồng Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. T2 tại túi quần đang mặc phía trước bên phải của anh Q 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có nẹp cài nhựa, viền màu đỏ, kích thước (4 × 6,7) cm, bên trong chứa các sợi thảo mộc màu nâu, anh Q khai nhận đây là túi ma tuý cỏ anh Q mua của bị cáo Nguyễn Thị H với giá 200.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra Công an huyện K đã tiến hành lấy lời khai bị cáo Nguyễn Thị H, bị cáo H khai nhận: Với mục đích bán kiếm lời, sáng ngày 28/10/2024, bị cáo H một mình đi xe ôm đến khu vực bến xe thành phố T. Tại đây, bị cáo H gặp, mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi, không biết tên và địa chỉ 10 túi ma tuý cỏ với giá 1.000.000 đồng rồi đi về nhà. Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 28/10/2024, khi bị cáo H đang ở nhà thì anh Nguyễn Hồng Q đến và hỏi “chị có phải Hà B không?”, bị cáo H trả lời “đúng rồi”, anh Q nói tiếp “chị có tô không bán cho em hai trăm?”. Hiểu ý anh Q muốn hỏi mua ma tuý cỏ nên bị cáo H đồng ý, anh Q đưa cho bị cáo H 200.000 đồng, bị cáo nhận tiền và đưa cho anh Q 01 túi nilon trong suốt, miệng túi có nẹp cài nhựa, viền màu đỏ, kích thước (4 × 6,7) cm, bên trong chứa các sợi thảo mộc màu nâu là ma tuý cỏ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày thì Cơ quan điều tra Công an huyện K đến nhà tiến hành làm việc với bị cáo H, bị cáo H tự nguyện giao nộp 200.000 đồng tiền bán ma tuý cỏ cho anh Q. Cơ quan điều tra Công an huyện K đã khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo H, thu giữ 09 túi nilon trong suốt, miệng túi có nẹp cài nhựa, viền màu đỏ, kích thước (4 × 6,7) cm, bên trong chứa các sợi thảo mộc màu nâu.
Tại bản Kết luận giám định số 8404/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của V Bộ C kết luận: “Mẫu ghi thu của Nguyễn Thị H: Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA, MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA trong các sợi thảo mộc màu nâu gửi giám định, tổng khối lượng mẫu: 20,425 gam, khối lượng chất MDMB-4en-PINACA trong mẫu 0,006 gam; mẫu ghi thu của Nguyễn Hồng Q: Tìm thấy chất ma tuý MDMB-4en-PINACA, MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA trong các sợi thảo mộc màu nâu gửi giám định, tổng khối lượng mẫu: 1,378 gam. Khối lượng chất MDMB-4en-PINACA trong mẫu 0,008 gam. Hiện nay V chưa có mẫu chuẩn định lượng MDMB-BUTINACA, MDMB-INAC nên không xác định được khối lượng MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA có trong mẫu”
Cáo trạng số 14/CT-VKSKX ngày 23/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội: "Mua bán trái phép chất ma túy" theo Khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên toà, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình giữ nguyên truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- - Về hình phạt: Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ đến 7.000.000đ để sung vào ngân sách nhà nước.
- - Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- + Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 8404/KL-KTHS của V Bộ C.
- + Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng do bị cáo H bán ma túy mà có được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 1645/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.
- - Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Bị cáo đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không tranh luận gì.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện K, tỉnh Thái Bình và của Điều tra viên; của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến xương, tỉnh Thái Bình và của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đúng thẩm quyền theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Vì vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng quy định của pháp luật.
- Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Thị H đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra. Lời khai nhận tội của bị cáo được chứng minh bởi các chứng cứ khác như: Biên bản làm việc lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 28/10/2024 tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 01, 02); biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện K lập hồi 11 giờ 55 phút; 12 giờ 10 phút; 12 giờ 40 phút; 12 giờ 55 phút và 15 giờ 15 phút ngày 28/10/2024 tại xã B, huyện K, tỉnh Thái Bình (Bút lục số 03, 04, 09, 14, 15); kết luận giám định số 8404/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của V Bộ C (Bút lục số 13); kết luận giám định số 1645/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T (Bút lục số 19); lời khai của người có nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hồng Q (Bút lục từ số 50 đến số E); lời khai của những người chứng kiến là anh Trần Hữu Đ1 và ông Trần Đình M (Bút lục từ số 98 đến số A). Cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến, phù hợp với các chứng cứ khác về thời gian, địa điểm, hành vi phạm tội. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 10 giờ 40 phút ngày 28/10/2024, tại chỗ ở của mình, bị cáo Nguyễn Thị H đã có hành vi bán trái phép 1,378 gam thảo mộc có chứa chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA (0,008 gam), MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA cho anh Nguyễn Hồng Q lấy 200.000 đồng. Ngoài ra, bị cáo H còn tàng trữ tại chỗ ở của mình 20,425 gam thảo mộc có chứa chất ma túy loại MDMB-4en-PINACA (0,006 gam), MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA mục đích để bán kiếm lời.
- Vì vậy, bị cáo Nguyễn Thị H đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Điều 251 Bộ luật Hình sự tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định: “1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm; ...5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
- Xét tính chất mức độ hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là tội phạm nghiêm trọng, vì vậy, Hội đồng xét xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo, và góp phần đấu tranh phòng ngừa tội phạm trong xã hội. Do bị cáo bán ma túy mục dích kiếm lời nên cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thị H không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra vụ án và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo nên bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
- Về nguồn gốc số ma tuý: Bị cáo Nguyễn Thị H khai mua của một người đàn ông khoảng 30 tuổi không biết tên và địa chỉ tại khu vực bến xe thành phố T vào sáng ngày 28/10/2024. Cơ quan điều tra Công an huyện K đã tiến hành điều tra nhưng không xác định được người bán nên không có căn cứ xử lý.
- Đối với anh Nguyễn Hồng Q có hành vi tàng trữ trái phép ma túy loại MDMB-4en-PINACA, MDMB-BUTINACA, MDMB-INACA mua của bị cáo H mục đích để sử dụng cho bản thân. Bản thân anh Q không có tiền án, tiền sự liên quan đến các hành vi tàng trữ, mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý nên hành vi của anh Q không đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự. Ngày 08/01/2025, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 1.000.000 đồng đối với anh Q là phù hợp..
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- [8.1] Số ma túy thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hồng Q được hoàn lại sau giám định niêm phong trong 01 phong bì ghi số 8404/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của V Bộ C là vật Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.
- [8.2] Đối với số tiền 200.000 đồng thu giữ của bị cáo H được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 1645/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, đây là tiền do bị cáo bán ma túy cho anh Q mà có nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
- Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Khoản 1, Khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 47 Bộ luật Hình sự; căn cứ Điều 106; Điều 135; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; áp dụng Điều 21; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
-
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H 02 (hai) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 05/11/2024.
Phạt bị cáo Nguyễn Thị H 5.000.000 đồng sung vào ngân sách nhà nước.
-
Về xử lý vật chứng:
- 3.1. Tịch thu tiêu hủy số ma tuý thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị H và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là anh Nguyễn Hồng Q được hoàn lại sau giám định được niêm phong trong 01 phong bì số 8404/KL-KTHS ngày 01/11/2024 của V Bộ C.
- 3.2. Tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 200.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì ghi số 1645/KL-KTHS ngày 07/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh T.
(Vật chứng nêu trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình quản lý).
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 27/02/2025. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Nguyễn Hồng Q có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Hà
