TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 11/2025/DS-ST Ngày 15-4-2025 V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Hoàng Giang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hoàng Thị Thu Hường
Ông Phạm Hồng Thái
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thanh Hiếu - Thư ký viên TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trực Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Vũ Thị Thanh Hương - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Trực Ninh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 39/2024/TLST-DSST ngày 22 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2025/QĐXXST-DS ngày 11 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
*Nguyên đơn:
1. Công ty cổ phần M2 (MARS); Địa chỉ: Tầng A, tòa nhà V, số I D, phường D, quận C, thành phố Hà Nội
Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Công T - Chức vụ: Giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Công T: Ông Cao Duy T1 - Chức vụ: Trưởng phòng XLN Miền Bắc (Theo VBUQ số 02/2024/UQ-GĐ ngày 19/4/2024).
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Cao Duy T1 theo văn bản ủy quyền số 2646/2024/UQ-MARS.VPB ngày 20/10/2024:
Ông Đào Duy H - Chuyên viên xử lý nợ;
Bà Nguyễn Thị Vân A - Chuyên viên xử lý nợ.
Địa chỉ liên hệ: Tầng A, Tòa nhà N, số B đường Đ, phường L, TP N, tỉnh Nam Định.
2. Ngân hàng TMCP V1 (viết tắt V2); Địa chỉ: Tòa V, Số H L, phường L, quận Đ, TP ..
Người đại diện theo pháp luật: Ông Ngô Chí D - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Ngô Chí D: Ông Nguyễn Đức V - Tổng giám đốc V2 (Theo văn bản ủy quyền số 09/2012/UQ-CT ngày 05/7/2012)
Người đại diện theo ủy quyền của ông Nguyễn Đức V: Ông Đỗ Hoàng L - Chức vụ: Giám đốc Trung tâm thu hồi nợ Khách hành doanh nghiệp và xử lý nợ pháp lý (Theo văn văn bản ủy quyền số 38a/2024/UQN-CTQT ngày 01/06/2024 ).
Đại diện theo uỷ quyền của ông Đỗ Hoàng L theo văn bản ủy quyền số 310/2024/UQ-VPB ngày 31/10/2024: Ông Phạm Tất T2 - Chuyên viên xử lý nợ.
* Bị đơn: Ông Bùi Văn C, sinh năm 1993 và bà Bùi Thị Tuyết M, sinh năm 1992; Cùng nơi cư trú: TDP Đ, thị trấn N, huyện T, tỉnh Nam Định.
Địa chỉ liên hệ: Quầy thuốc N, Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân A, ông Phạm Tất T2 đều có đơn xin xét xử vắng mặt.
Ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M vắng mặt lần thứ 2 không có lý do dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP V1 (viết tắt V2) là ông Phạm Tất T2 trình bày: Ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị Tuyết M đã vay của ngân hàng TMCP V1 (V2) các khoản tiền cụ thể như sau:
Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021 và Khế ước nhận nợ kèm theo ngày 30/12/2022 (tương đương với LD2236402238 trên bảng kê). Số tiền vay: 828.000.000 đồng. Thời hạn vay là 12 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn là bổ sung vốn kinh doanh sản xuất biển quảng cáo. Tại thời điểm cho vay, ngân hàng V2 và ông C, bà M đều xác nhận gia đình ông C, bà M có kinh doanh sản xuất biển quảng cáo nhưng kinh doanh với quy mô và vốn nhỏ nên không đăng ký giấy phép hộ kinh doanh tại Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Nam Định.
Theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021 (tương đương với LD2200600985 trên bảng kê). Số tiền vay là 100.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn: Vay mục phụ nhu cầu đời sống.
Hợp đồng cho vay số LD2226401635 ngày 21/9/2022, số tiền vay là 100.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn là vay phục vụ nhu cầu đời sống.
Để đảm bảo cho các khoản vay trên, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M đã thế chấp tài sản là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa
đất số 139, tờ bản đồ số 19; địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; theo "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 865855; Số vào sổ cấp GCN: CH03176 do UBND huyện T, tỉnh Nam Định cấp ngày 17/04/2020.
Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên toàn bộ (các) khoản nợ đã chuyển sang quá hạn và phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn kể từ ngày 05/10/2023 theo thỏa thuận trong (các) Hợp đồng tín dụng ký với V2.
Ngày 30/5/2024, V2 đồng ý bán và Công ty cổ phần M2 (sau đây gọi tắt là “Công ty M2”) đồng ý mua một phần khoản nợ phát sinh theo (các) Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng cho vay ký giữa V2 với ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M, cụ thể: Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021; Một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021 (tương đương với LD2200600985 trên bảng kê) và một phần (90%) khoản nợ phát sinh theo Hợp đồng cho vay LD2226401635 ngày 21/9/2022.
Ngày 30/11/2024, V2 tiếp tục bán và Công ty cổ phần M2 tiếp tục mua 90% của khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) của V2 đối với 10% khoản nợ chưa bán tại Hợp đồng mua bán nợ số 04/2024/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm ký ngày 30/05/2024. Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M2 kế thừa một phần (99%) quyền, nghĩa vụ của V2 phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021, Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021, Hợp đồng cho vay LD2226401635 ngày 21/9/2022 và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Đồng thời, V2 tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán (01%) cho Công ty M2.
Quá trình xử lý khoản vay, V2 và Công ty M2 đã nhiều lần đôn đốc, yêu cầu ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản vay cho V2 và Công M1, tuy nhiên ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M không thực hiện. V2 đề nghị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh giải quyết các nội dung sau:
Buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải thanh toán cho Công ty cổ phần M2 và V2 tổng số tiền tạm tính đến ngày phiên tòa xét xử 15/4/2025 số tiền cụ thể như sau:
| Công ty Mars | VPBank | Công ty Mars và VPBank | |
|---|---|---|---|
| Nợ gốc | 955.539.159 ₫ | 9.651.911 đ | 965.191.070 ₫ |
| Nợ lãi | 358.814.453₫ | 3.624.388 đ | 362.438.841 đ |
| Lãi chậm trả | 36.517.680 ₫ | 368.865 ₫ | 36.886.545 đ |
| Tổng cộng | 1.350.871.292 đ | 13.645.164 đ | 1.364.516.456 ₫ |
Đề nghị Tòa án tiếp tục cho tính lãi theo đúng thỏa thuận trong (các) Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ (nếu có) và văn bản tín dụng của khoản vay ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M thanh toán hết nợ cho Công ty M2 và V2. Lãi phát sinh phải trả cho M1 và V2 tương ứng với tỷ lệ sở hữu của mỗi bên đối với từng khoản nợ.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M không trả nợ đầy đủ cho M1 và V2 thì Mars/VPBank có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho M2 và/hoặc V2, cụ thể như sau: Toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 139, tờ bản đồ số 19; địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; theo "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 865855.
Trong trường hợp tài sản bảo đảm sau khi kê biên, phát mại không đủ trả nợ, M1 và V2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xác minh, kê biên, phát mại các tài sản khác của ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho M1 và/hoặc V2 cho đến khi thực tế trả hết (các) khoản nợ.
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần M2 (viết tắt Mars) là bà Nguyễn Thị Vân A trình bày:
Bà đồng ý với quan điểm trình bày của đại diện theo uỷ quyền của V2, bà đề nghị Toà án nhân dân huyện Trực Ninh giải quyết yêu cầu khởi kiện của M2 và V2 đối với ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M theo quy định pháp luật.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/11/2024, bị đơn là bà Bùi Thị Tuyết M trình bày:
Gia đình bà có nhận được các Thông báo của Toà án về việc Công ty M2 và V2 có đơn khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng với vợ chồng bà. Tuy nhiên, chồng bà là ông Bùi Văn C đi làm xa, bản thân bà đang chăm con nhỏ nên không đến Toà án trình bày quan điểm được. Năm 2021, vợ chồng bà có vay của ngân hàng V2 số tiền là 828 triệu đồng. Ngoài ra còn 02 khoản vay khác là hiện tại còn nợ 78.020.837 đồng và 59.170.233 đồng. Để đảm bảo cho các khoản vay nêu trên vợ chồng bà đã thế chấp toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 139, tờ bản đồ số 19; địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định; theo
"Giấy chứng nhận quyên sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 865855 mang tên vợ chồng bà. Hiện tại thửa đất 139 vẫn giữ nguyên hiện trạng là đất trống. Đối với yêu cầu khởi kiện của V2 và công ty M2, vợ chồng bà đồng ý với số liệu mà phía V2 và công ty M2 đưa ra. Bản thân bà mong muốn có thể đưa ra phương án tốt nhất để trả nợ. Bà sẽ liên lạc với ông C để thống nhất phương án trả nợ. Bà nhận trách nhiệm thông báo cho ông C được biết về việc Toà án đến làm việc. Vợ chồng bà sẽ cố gắng thông báo sớm nhất cho Toà án về phương án trả nợ. Bà đề nghị Toà án gửi các thông báo cho vợ chồng bà về địa chỉ Quầy thuốc N, địa chỉ Xóm L, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định và bà nhận trách nhiệm thông báo cho ông C được biết sớm nhất.
TAND huyện Trực Ninh đã tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cứ, phiên hòa giải nhưng bị đơn không có mặt nên không hòa giải được.
Theo yêu cầu xem xét thẩm định của nguyên đơn, TAND huyện Trực Ninh đã tiến hành thủ tục xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với thửa số 139, tờ bản đồ số 19 tại Xóm H, xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Kết quả thẩm định là thửa đất 139 vẫn giữ nguyên hiện trạng là đất trống.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa của Thẩm phán và HĐXX đúng quy định của BLTTDS. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ của nguyên đơn, theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS; bị đơn nhiều lần vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải đã vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 70, 72 BLTTDS.
Việc Toà án mở phiên toà khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ 2 không có lý do là đúng theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 BLTTDS.
Về nội dung giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 91 của Luật các tổ chức tín dụng; Điều 26, 35, 74; 147 Bộ luật tố tụng dân sự, các Điều 463, 466, 468, 317, 299, 288 Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ngân hàng V2 và Công ty M2, buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải trả nợ cho ngân hàng V2 và Công ty M2 số tiền tính đến ngày 15/4/2025 như sau:
Buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải thanh toán cho Công ty cổ phần M2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/4/2025 là: 1.350.871.292 đồng Trong đó, nợ gốc 955.539.159 đồng, nợ lãi 358.814.453 đồng; lãi chậm trả 36.517.680 đồng.
Buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải thanh toán cho V2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/4/2025 là: 13.645.164 đồng. Trong đó, Nợ gốc: 9.651.911 đồng; Nợ lãi: 3.624.388 và lãi chậm trả 368.865 đồng.
Tổng cộng, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải thanh toán cho Công ty cổ phần M2 và V2 tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/4/2025 là 1.364.516.456 đồng. Trong đó, nợ gốc 965.191.070 đồng, nợ lãi 362.438.841 đồng, lãi chậm trả lãi 36.886.545 đồng.
Kể từ ngày 16/4/2025, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M còn phải trả cho V2 và Công ty M2 tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất được quy định tại các Hợp đồng tín dụng, khế ước nhận nợ đã ký kết giữa các bên cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho V2 và Công ty M2.
Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật mà ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M không trả nợ đầy đủ cho M1 và V2 thì M1 và V2 có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi khoản nợ cho M1 và/hoặc V2. Trường hợp sau khi kê biên, phát mại tài sản thế chấp, số tiền thu được không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ cho M1 và V2 thì có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án kê biên, phát mại tài sản khác để thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho M1 và/hoặc V2 đến khi trả hết các khoản nợ.
Về án phí: Ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải chịu án phí theo quy định; Hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả trông luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Việc công ty M2 và V2 khởi kiện yêu cầu ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M - Căn cứ Điều 26 và Điều 35 BLTTDS, TAND huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định thụ lý giải quyết theo thủ tục sơ thẩm là đúng pháp luật. Nguyên đơn đã chấp hành nghiêm chỉnh quy định về quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các Điều 70; 71 BLTTDS; bị đơn nhiều lần vắng mặt trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hòa giải và tại phiên tòa đã vi phạm quy định về quyền và nghĩa vụ của bị đơn theo quy định tại Điều 72 BLTTDS.
Tòa án mở phiên tòa xét xử vụ án khi nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn là ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M vắng mặt lần thứ 2 không có lý do là đúng quy định tại Điều 227 và Điều 228 BLTTDS.
Quá trình giải quyết vụ án, V2 tiếp tục bán và Công ty cổ phần M2 tiếp tục mua 90% của khoản nợ gốc, nợ lãi trong hạn, lãi quá hạn, tiền phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và các nghĩa vụ tài chính khác (nếu có) của V2 đối với 10% khoản nợ chưa bán tại Hợp đồng mua bán nợ số 04/2024/VPB-MARS và Phụ lục đính kèm ký ngày 30/5/2024. Như vậy, căn cứ vào quy định của pháp luật, Công ty M2 kế thừa một phần (99%) quyền, nghĩa vụ của V2 phát sinh từ Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021, Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021, Hợp đồng cho vay LD2226401635 ngày 21/9/2022 và các biện pháp bảo đảm kèm theo. Trong đó, có quyền thực hiện khởi kiện khách hàng vay, bên có nghĩa vụ trả nợ, bên bảo đảm tại Tòa án theo quy định pháp luật. Đồng thời, V2 tiếp tục là chủ nợ và bên nhận bảo đảm tương ứng với phần khoản nợ chưa bán (01%) cho Công ty M2.
Việc chuyển giao 99% quyền yêu cầu giữa V2 với Công ty M2 được thực hiện theo quy định tại các Điều 365, 368 BLDS nên Công ty CP M2 là tổ chức kế thừa một phần quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại khoản 4 Điều 74 Bộ luật tố tụng dân sự. Vì vậy, Công ty M2 có quyền yêu cầu bị đơn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo yêu cầu khởi kiện của V2.
[2] Về nội dung:
Xét các hợp đồng tín dụng gồm: Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021 và Khế ước nhận nợ kèm theo ngày 30/12/2022; Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021; Hợp đồng cho vay số LD2226401635 ngày 21/9/2022 giữa ngân hàng V2 và ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M cho thấy:
Hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021 và Khế ước nhận nợ kèm theo ngày 30/12/2022 là hợp đồng mà vợ chồng ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M cùng ký kết với ngân hàng V2. Đối với Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021 và Hợp đồng cho vay số LD2226401635 ngày 21/9/2022 đều do ông Bùi Văn C thực hiện ký kết với ngân hàng V2. Tuy nhiên, tại biên bản lấy khai ngày 21/11/2024, bị đơn là bà Bùi Thị Tuyết M đã xác nhận việc bà biết 02 khoản vay này và đây là khoản vay chung của vợ chồng bà.
Tại thời điểm ký hợp đồng, Ngân hàng V2 là pháp nhân hợp pháp có đăng ký kinh doanh, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, việc ký kết hợp đồng, khế ước nhận nợ và các văn bản khác thể hiện ý chí tự nguyện của các bên. Nội dung hợp đồng không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội, hình thức hợp đồng đảm bảo các điều kiện theo quy định của pháp luật. Do đó, các hợp đồng giữa ngân hàng V2 và ông Bùi Văn C, bà Bùi Thị Tuyết M
cùng các văn bản kèm theo đều hợp pháp, các bên tham gia ký kết đều phải có nghĩa vụ tôn trọng thực hiện.
Quá trình thực hiện Hợp đồng, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V2 và phải chịu lãi suất nợ quá hạn. Tính đến ngày 15/4/2025, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M mới trả cho ngân hàng V2 tổng số tiền là 187.425.719 đồng trong đó 62.808.930 đồng tiền gốc, 124.616.789 tiền lãi.
Ngân hàng V2 đã nhiều lần thông báo, đôn đốc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M thanh toán khoản nợ nhưng ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M không thực hiện được. Vì vậy, ngân hàng V2, công ty M2 khởi kiện ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M tại TAND huyện Trực Ninh thanh toán toàn bộ khoản nợ là có căn cứ.
[3] Xét yêu cầu thanh toán tiền vay gốc, tiền lãi phải trả, tiền phạt chậm trả lãi của Ngân hàng V2 và công ty M2 đối với ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M.
[3.1] Đối với hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021 (gọi tắt là HĐ số 1) và Khế ước nhận nợ kèm theo ngày 30/12/2022.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì số tiền gốc mà V2 đã giải ngân cho ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M theo hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021 và Khế ước nhận nợ kèm theo ngày 30/12/2022 là 828.000.000 đồng. Thời hạn vay là 12 tháng, tính từ ngày giải ngân vốn vay đầu tiên. Mục đích sử dụng vốn là bổ sung vốn kinh doanh sản xuất biển quảng cáo. Ngân hàng V2 và bà M cam kết tại thời điểm giải ngân, ông C và bà M là hộ kinh doanh nhỏ lẻ nên không đăng ký kinh doanh.
Về lãi suất trong hạn: Tại Khế ước nhận nợ đã ký kết, các bên thỏa thuận lãi suất tại thời điểm giải ngân của hợp đồng cho vay là 12,5%/năm. Lãi suất được điều chỉnh theo quy định tại điểm b khoản 7 Điều 2 của HĐ số 1. Lãi trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn (ngày 05/10/2023) là 15%/năm.
Về lãi suất quá hạn: Tại điểm c, khoản 9 Điều 2 của HĐ số 1 có quy định về lãi suất quá hạn = 150% lãi suất cho vay trong hạn. Ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với V2 từ ngày 05/10/2023 và phải chịu lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn.
Về tiền phạt chậm trả: Tại điểm d khoản 9 Điều 2 của HĐ số 1 có thỏa thuận: “Lãi suất chậm trả áp dụng đối với tiền lãi chậm trả: Bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn áp dụng tại thời điểm chậm trả lãi nhưng tối đa không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả”.
Xét thấy việc thỏa thuận lãi suất của các đương sự là hoàn toàn tự nguyện, thỏa thuận về mức lãi suất và điều chỉnh lãi suất là phù hợp với Điều 91, 95 Luật
các tổ chức tín dụng và Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N nên cần được chấp nhận.
Quá trình thực hiện HĐ số 1, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M đã thanh toán cho ngân hàng V2 tổng số tiền là 79.514.582 đồng, trong đó: trả gốc 0 đồng, trả lãi: 79,514,582 đồng. Vì vậy, cần buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M thanh toán khoản nợ của HĐ số 1 là 1.107.247.215 đồng trong đó 828 triệu nợ gốc; 254.511.480 đồng nợ lãi và 24.735.735 đồng nợ lãi chậm trả.
[3.2] Đối với Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021 (gọi là HĐ số 2). Số tiền vay là 100.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn là vay phục vụ nhu cầu đời sống. Quá trình thực hiện hợp đồng đến ngày 05/9/2022, ông C và bà M đã thanh toán được cho V2 số tiền là 66.390.908 đồng, trong đó tiền trả gốc 40.829.767 đồng, tiền lãi 25.561.141 đồng. Vì vậy, cần buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M thanh toán khoản nợ của HĐ số 2 là 108.597.718 đồng, trong đó nợ gốc 59.170.233 đồng, nợ lãi 43.731.573 đồng, lãi chậm trả 5.695.912 đồng.
[3.3] Hợp đồng cho vay số LD2226401635 ngày 21/9/2022 (gọi tắt là HĐ số 3): Số tiền vay là 100.000.000 đồng. Mục đích sử dụng vốn là vay phục vụ nhu cầu đời sống. Lãi suất tại thời điểm giải ngân là 20%. Lãi suất trong hạn theo quy định của V2 từng thời kỳ. Quá trình thực hiện hợp đồng số 3 đến ngày 01/10/2023, ông C và bà M đã thanh toán cho V2 số tiền là 41.520.229 đồng, trong đó 21,979,163 đồng tiền gốc, 19,541,066 đồng tiền lãi. Vì vậy, cần buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M thanh toán khoản nợ của HĐ số 3 là 148.671.523 đồng, trong đó nợ gốc 78.020.837 đồng, nợ lãi 54.195.788 đồng và 6.454.898 đồng lãi chậm trả.
Như vậy, tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải trả cho ngân hàng V2 và công ty M2 tổng số tiền là 1.364.516.456 đồng trong đó 965.191.070 đồng tiền gốc, 362.438.841 đồng tiền lãi và 36.886.545 đồng tiền lãi chậm trả. Căn cứ vào việc đối chiếu số liệu về việc giải ngân, thanh toán gốc, lãi và các quy định trong các Hợp đồng tính đến ngày 15/4/2025, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M còn nợ ngân hàng V2 và công ty M2 số tiền như sau:
| Công ty Mars (99%) | VPBank (1%) | Công ty Mars và VPBank | |
|---|---|---|---|
| Nợ gốc | 955.539.159 | 9.651.911 | 965.191.070 |
| Nợ lãi | 358.814.453 | 3.624.388 | 362.438.841 |
| Nợ lãi chậm trả | 36.517.680 | 368.865 | 36.886.545 |
| Tổng cộng | 1.350.871.292 | 13.645.164 | 1.364.516.456 |
Ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải chịu mức lãi suất nợ quá hạn, nợ lãi chậm trả theo thoả thuận trong các HĐ số 1, HĐ số 2 và HĐ số 3 là phù hợp, có cơ sở chấp nhận.
[4] Về hợp đồng thế chấp số 4955005 ký kết ngày 28/12/2021 giữa ngân hàng V2 với ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M:
HĐXX xét thấy về hình thức hợp đồng đều được lập thành văn bản, các bên tham gia ký kết đúng thành phần đại diện và có chữ ký, con dấu của các bên. Nội dung thế chấp thể hiện đầy đủ thông tin của bên thế chấp ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M, bên nhận thế chấp là ngân hàng V2, quyền và nghĩa vụ của các bên, thông tin về tài sản thế chấp. Tài sản thế chấp thuộc đối tượng đăng ký giao dich giao dịch bảo đảm và đã được ngân hàng V2 làm thủ tục giao dịch đảm bảo. Hợp đồng thế chấp đã được công chứng tại Văn phòng Công chứng và đã đăng ký việc thế chấp quyền sử dụng đất tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện T.
Căn cứ vào các Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323 của BLDS xác định hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 4955005 ký kết ngày 28/12/2021 giữa ngân hàng V2 với ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành với các bên.
[5] Về xử lý tài sản thế chấp: Để đảm bảo cho khoản vay, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M đã tự nguyện thế chấp toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 139, tờ bản đồ số 19; địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định. Đến nay, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
Đại diện theo uỷ quyền của công ty M2 có đơn yêu cầu Toà án thẩm định lại tài sản thế chấp nêu trên. Toà án đã tiến hành thẩm định tài sản thế chấp cho thấy tài sản thế chấp không có bất kỳ biến động nào, tranh chấp nào với các hộ liền kề từ khi ký kết hợp đồng thế chấp với ngân hàng V2 đến nay.
HĐXX xét thấy: Hợp đồng thế chấp được ký kết giữa các bên đều là tự nguyện thỏa thuận, phù hợp với các quy định của pháp luật, đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật nên được xác định là hợp pháp. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của V2 và Công ty M2 về việc được quyền xử lý tài sản bảo đảm nếu ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M không trả được nợ. Nếu số tiền thu được từ việc phát mại tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M vẫn phải có nghĩa vụ thanh toán hết khoản nợ cho V2 và Công ty M2. Trường hợp, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M đã trả toàn bộ khoản nợ trên thì V2 và Công ty M2 phải trả lại toàn bộ giấy tờ liên quan đến tài sản thế chấp cho chủ sử dụng, chủ sở hữu tài sản.
[6] Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận, bị đơn phải nộp án phí sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số
326/2016/UBTVQH14ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án. Nguyên đơn không phải nộp án phí sơ thẩm và được hoàn lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Lệ phí thẩm định: Công ty M2 nhận nộp lệ phí thẩm định và đã nộp đủ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 74, Điều 147, Điều 227, Điều 271, 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 241, 292, 293, 298, 299, 317, 318, 319, 320, 321, 322, 323, 365, 368, 463, 466, 470 Bộ luật dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 91, 95, 98 Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Căn cứ Điều 7, Điều 8 Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
- Căn cứ Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP V1 (V2) và công ty cổ phần M2 (Công ty M2).
- Buộc ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải trả cho ngân hàng V2 và Công ty M2 theo các hợp đồng cho vay hạn mức số LN2112234959005 ngày 29/12/2021, Giấy đăng ký kiêm Hợp đồng cho vay không TSBĐ, mở & sử dụng tài khoản thanh toán và dịch vụ Ngân hàng điện tử ngày 30/12/2021, Hợp đồng cho vay số LD2226401635 ngày 21/9/2022 tính đến ngày xét xử (ngày 15/4/2025) số tiền theo như sau:
| Công ty Mars (99%) | VPBank (01%) | Công ty Mars và VPBank | |
|---|---|---|---|
| Nợ gốc | 955.539.159 đồng | 9.651.911 đồng | 965.191.070 đồng |
| Nợ lãi | 358.814.453 đồng | 3.624.388 đồng | 362.438.841 đồng |
| Nợ lãi chậm trả | 36.517.680 đồng | 368.865 đồng | 36.886.545 đồng |
| Tổng cộng | 1.350.871.292 đồng | 13.645.164 đồng | 1.364.516.456 đồng |
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm, ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M còn phải trả cho V2 và Công ty M2 tiền lãi phát sinh trên dư nợ gốc theo mức lãi suất được quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký kết tương ứng với tỷ lệ còn phải trả cho V2 và Công ty M2 đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ cho
V2 và Công ty M2. Mức lãi suất mà ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M trả theo quyết định của Tòa án sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của V2 theo thỏa thuận về cách tính lãi mà các bên đã thỏa thuận trong các hợp đồng nêu trên .
2. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả các khoản nợ gốc, lãi và lãi phát sinh thì V2 và Công ty M2 được quyền yêu cầu Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm là toàn bộ quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại thửa đất số 139, tờ bản đồ số 19; địa chỉ: Xã T, huyện T, tỉnh Nam Định theo "Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 865855; Số vào sổ cấp GCN: CH03176 do UBND huyện T, tỉnh Nam Định cấp ngày 17/04/2020 cho ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M.
Trường hợp số tiền phát mại tài sản (tài sản đảm bảo cho khoản vay) không đủ để thanh toán toàn bộ khoản nợ thì V2 và Công ty M2 có quyền yêu cầu ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
V2 và Công ty M2 có nghĩa vụ trả lại Giấy CNQSD đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CO 865855; Số vào sổ cấp GCN: CH03176 do UBND huyện T, tỉnh Nam Định cấp ngày 17/04/2020 cho ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M khi ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M thanh toán xong các khoản nợ nêu trên cho V2 và Công ty M2.
3. Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Bùi Văn C và bà Bùi Thị Tuyết M phải nộp 52.935.000 đồng (Đã làm tròn) án phí dân sự sơ thẩm.
Công ty M2 được trả lại 23.950.000 đồng đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai thu tiền số 0004120 ngày 22/10/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định.
Lệ phí thẩm định: Công ty M2 nhận nộp lệ phí thẩm định và đã nộp xong.
4. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của BLTTDS.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hoàng Giang |
Bản án số 11/2025/DS-ST ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 11/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRỰC NINH, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: VPBank, Mars - C, M
