|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 10-4-2025 |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thùy Dung.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Luận.
Ông Hồ Chí Trường.
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Liếng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Anh Kiều – Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp (là điểm cầu trung tâm) và Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Tháp (là điểm cầu thành phần) xét xử trực tuyến công khai tại 02 điểm cầu vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Trần Vi K (tên gọi khác: B), sinh ngày 01-01-1987 tại tỉnh Đồng Tháp; Nơi thường trú: Khóm A, phường A, thành phố H, tỉnh Đồng Tháp. Chỗ ở hiện nay: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Di R, sinh năm: 1960 (chết) và bà Dương Thị X, sinh năm: 1966 (sống); Anh chị em ruột: 02 người, bị cáo là con thứ 2 trong gia đình.
Tiền sự:
- - Ngày 10/12/2020, bị Công an xã A ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng, về hành vi gây mất trật tự công cộng.
- - Ngày 05/12/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt.
Tiền án: Không.
Nhân thân:
- - Năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 09 tháng.
- - Năm 2019, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng.
- - Năm 2021, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng.
- - Năm 2025, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
Tạm giữ, tạm giam: Không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và tạm hoãn xuất cảnh. Hiện đang điều trị cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Tháp. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Bị hại: Võ Văn M, sinh năm 1978 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp C, xã T, huyện H, tỉnh Đồng Tháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Lê Trí Minh H, sinh năm 1969 (Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
Người làm chứng:
- Đặng Văn H1, sinh năm 1982 (Vắng mặt);
- Cao Thị V, sinh năm 1965 (Vắng mặt);
Cùng cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Nguyễn Phương B1, sinh năm 1989 (Vắng mặt);
Nơi cư trú: Ấp A, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 19 giờ, ngày 17/12/2024 Trần Vi K (Tên gọi khác: B) đến nhà của ông Lê Trí Minh H, ngụ ấp A, xã A, huyện T mượn 01 xe mô tô (không biển kiểm soát, loại xe tự chế, không xác định số khung, số máy) đi công chuyện. Đến khoảng 22 giờ cùng ngày, K điều khiển xe chạy ngang qua nhà kho của ông Võ Văn M, tại ấp A, xã A, huyện T nhìn thấy nhà kho không có người trông coi nên K dừng xe lại lấy kìm (K đã chuẩn bị sẵn) cắt ổ khoá đi vào bên trong kho lấy 03 bao nếp, 01 máy phun phân và 01 máy xịt thuốc cất giấu ở bụi chuối trước nhà T ở ấp A, xã A, huyện T. Đến khoảng 06 giờ, ngày 18/12/2024, K bán cho người nam mua phế liệu (không biết họ tên và địa chỉ cụ thể) gồm: 02 cái bình và 03 bao nếp được số tiền là: 1.450.000 đồng, tiêu xài cá nhân. Đến ngày 20/12/2024, ông M đến nhà kho kiểm tra phát hiện tài sản bị mất trộm nên trình báo sự việc đến Công an xã A, huyện T. Do nghi ngờ K lấy trộm tài sản nên Công an mời K về trụ sở làm việc, tại đây K thừa nhận toàn bộ hành vi trộm cắp của mình.
Trong giai đoạn điều tra, bị hại Võ Văn M cho rằng bị mất trộm 04 bao nếp nhưng qua làm việc thì bị cáo K thừa nhận lấy trộm 03 bao nếp, ngoài ra không có chứng cứ nào khác cho rằng bị cáo K lấy trộm 04 bao nếp.
* Vật chứng của vụ án thu giữ:
- - 01 ổ khoá màu đen, hiệu Yefi, tài sản của anh Võ Văn M, hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T đã xử lý trả lại cho ông M.
- - 01 xe mô tô (không có biển kiểm soát, nhãn hiệu Dream, màu nâu, loại xe tự chế, không xác định số khung, số máy).
- - 01 cây kìm cắt sắt, sau khi cắt ổ khoá, trên đường chạy xe về nhà K đã ném bỏ, không xác định được địa điểm cụ thể nên không tổ chức truy tìm.
* Tại bản kết luận định giá tài sản số: 40/KL-HĐĐG, ngày 06 tháng 01 năm 2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T kết luận:
- - 01 máy phun phân, đầu bình màu đỏ, bình màu trắng, khối lượng 26 lít, đã qua sử dụng, giá trị định giá 1.600.000 đồng.
- - 01 máy xịt thuốc, nhãn hiệu Iseki, đầu máy màu đen, bình màu trắng, khối lượng 25 lít, giá trị định giá 1.300.000 đồng.
- - 04 bao nếp giống IR4625, xác nhận cấp 1, khối lượng 40kg/01 bao, giá 600.000 đồng/01 bao, giá trị định giá 2.400.000 đồng.
Tổng giá trị tài sản là 5.300.000 đồng.
Đối với 01 xe mô tô (không có biển kiểm soát, nhãn hiệu Dream, màu nâu, loại xe tự chế, không xác định số khung, số máy). Xe này bị cáo Khánh mượn của ông Lê Trí Minh H để chạy đi công chuyện, việc bị cáo K lấy xe đi trộm cắp tài sản thì ông H không biết nên không xem xét xử lý. Tuy nhiên, xe này không có đăng giấy theo quy định, đề nghị tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước. Đối với việc xe mô tô (không có biển kiểm soát) bị tịch thu thì ông H cũng không có yêu cầu bị cáo K bồi thường nên không xem xét giải quyết.
Đối với số tiền là: 1.450.000 đồng mà bị cáo K bán 02 cái bình và 03 bao nếp, để tiêu xài cá nhân hết, đề nghị bị cáo K nộp vào ngân sách Nhà nước.
Đối với 03 bao nếp, 01 máy phun phân và 01 máy xịt thuốc mà bị cáo K bán cho người nam mua phế liệu (không biết họ tên và địa chỉ cụ thể) nên chưa làm việc được người mua phế liệu, khi nào làm việc được sẽ xem xét xử lý sau.
Tại Cáo trạng số: 13/CT-VKSTH ngày 18-3-2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Trần Vi K về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Trần Vi K thừa nhận hành vi của bị cáo như nội dung cáo trạng truy tố, bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo là có lỗi và vi phạm pháp luật.
Bị hại Võ Văn M không yêu cầu bị cáo Trần Vi K bồi thường gì.
Tại phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị tuyên bố cáo bị cáo Trần Vi K phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: Không; Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo Trần Vi K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Từ đó, Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Trần Vi K mức án từ 01 (Một) năm đến 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù; Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề nghị xem xét giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:
- - Buộc bị cáo Trần Vi K nộp số tiền: 1.450.000 đồng (đây là tiền bán 02 cái bình và 03 bao nếp) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô (không có biển kiểm soát, nhãn hiệu Dream, màu nâu, loại xe tự chế không xác định số khung, số máy). Hiện vật chứng trên, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý.
Bị cáo không tham gia tranh luận.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo Trần Vi K xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa: Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt (có đơn xin vắng mặt) và những người làm chứng vắng mặt, nhưng trước đó đã có lời khai ở Cơ quan điều tra. Căn cứ vào Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt những người này.
[2] Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng trong vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hồng, Kiểm sát viên trong quá trình tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự. Từ khi khởi tố vụ án cho đến tại phiên tòa sơ thẩm những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Tại phiên tòa, lời nhận tội của bị cáo Trần Vi K phù hợp với nội dung cáo trạng truy tố, phù hợp với kết luận định giá tài sản, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ được và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, qua tranh tụng đã đủ cơ sở kết luận bị cáo Trần Vi K có hành vi lén lút lấy trộm tài sản của bị hại Võ Văn M 03 bao nếp, 01 máy phun phân và 01 máy xịt thuốc, có tổng trị giá là: 4.700.000 đồng. Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo đã có 02 tiền sự: Ngày 10/12/2020, bị Công an xã A ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 750.000 đồng, về hành vi gây mất trật tự công cộng; Ngày 05/12/2024, bị Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã A ra quyết định xử phạt hành chính số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi trộm cắp tài sản, chưa nộp phạt mà lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo Trần Vi K là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực hành vi, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, xuất phát từ lòng tham lam của bản thân; hành vi vi phạm của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của bị hại, gây lo lắng trong cộng đồng dân cư và gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ cơ sở cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Điều luật trên quy định:
“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân:
- + Năm 2018, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 09 tháng.
- + Năm 2019, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 12 tháng.
- + Năm 2021, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng.
- + Năm 2025, bị Toà án nhân dân huyện Tân Hồng áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 24 tháng.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Trần Vi K đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng Vì lẽ đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.
[5] Căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, căn cứ vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy, phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống cộng đồng một thời gian nhất định, để có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục cho bị cáo thấy được lỗi lầm của mình, phấn đấu trở thành con người tốt có ích cho gia đình và xã hội. Có như thế mới thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, đồng thời cũng nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung cho những ai có ý định phạm tội như bị cáo.
[7] Đối với thời gian bị cáo Trần Vi K chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh Đồng Tháp (thời gian 24 tháng từ ngày 06/01/2025) theo Quyết định số: 01/2025/QĐ-TA, ngày 17/01/2025 cuả Tòa án nhân dân huyện Tân Hồng, thời gian này bị cáo bị tập trung để cai nghiện đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo, nên không được khấu trừ vào thời hạn tù bị cáo phải chấp hành. Căn cứ Điều 117 của Luật xử lý vi phạm hành chính, kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án là hình phạt tù của bản án này thì bị cáo được miễn chấp hành thời gian còn lại theo quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính nêu trên.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[9] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Văn M không yêu cầu bị cáo Trần Vi K bồi thường nên không xem xét.
[10] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Buộc bị cáo Trần Vi K nộp số tiền: 1.450.000 đồng (đây là tiền bán 02 cái bình và 03 bao nếp) để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô (không có biển kiểm soát, nhãn hiệu Dream, màu nâu, loại xe tự chế không xác định số khung, số máy). Hiện vật chứng trên, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng).
[11] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Vi K phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[12] Xét thấy phát biểu luận tội và đề nghị xử lý vụ án của vị đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự; Điều 117 Luật Xử lý vi phạm hành chính.
Tuyên bố bị cáo Trần Vi K (tên gọi khác: B) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Trần Vi K 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Buộc bị cáo Trần Vi K nộp số tiền: 1.450.000 đồng để nộp vào ngân sách Nhà nước.
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 xe mô tô (không có biển kiểm soát, nhãn hiệu Dream, màu nâu, loại xe tự chế không xác định số khung, số máy). Hiện vật chứng trên, Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hồng đang quản lý (Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 25/3/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Hồng).
4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Trần Vi K phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
5. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 10-4-2025). Bị hại; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Thùy Dung |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 10/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HỒNG, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BC PHẠM TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
