Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. LIÊN CHIỂU

THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/DS-ST

Ngày 24.02.2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng cung ứng

dịch vụ thanh toán qua tài khoản không

dùng tiền mặt”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình

Ông Nguyễn Văn Bình

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thùy Trang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Hùng Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 02 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Liên Chiểu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 277/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản không dùng tiền mặt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2025/QĐXXST-DS ngày 10 tháng 01 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2025/QÐST-DS ngày 22 tháng 01 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại Cổ phần S. Địa chỉ: Số B - B N, phường V, quận C, thành phố H đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức T DChức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Nhân Đ; Chức vụ: Chuyên viên khách hàng. Địa chỉ: F đường T, quận L, thành phố Đà Nẵng (Theo giấy ủy quyền ngày 10/10/2024), có mặt.

* Bị đơn: Ông Hồ Tiến T1, sinh năm 1988. Nơi cư trú: Tổ B, phường H, quận L, thành phố Đà Nẵng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện gửi đến Tòa án ngày 14 tháng 10 năm 2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 23/10/2019, ông Hồ Tiến T1 có ký với Ngân hàng S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông Hồ Tiến T2 hàng S đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.0000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Hồ Tiến T3 thực hiện 43 giao dịch với tổng số tiền là 176.352.753 đồng. Ngoài ra trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông Hồ Tiến T3 đăng tải vào phần mềm (Oppo) thực hiện 03 lần vay tiền, mỗi lần vay 20.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện cam kết ông Hồ Tiến T3 không thực hiện nghĩa vụ trả gốc, lãi hàng tháng như đã cam kết. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông Hồ Tiến T3 vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc lãi, cụ thể như sau:

  • - Đối với số thẻ số: 356480 – 9819 còn nợ: Tiền gốc: 2.001.062; Nợ lãi quá hạn: 558.052 đồng; Nợ lãi trong hạn: 1.116.103 đồng. Tổng cộng: 3.675.217 đồng.
  • - Đối với khoản vay ký hiệu số: 211251 – 2558 còn nợ: Tiền gốc: 4.110.000; Nợ lãi quá hạn: 1.154.664 đồng; Nợ lãi trong hạn: 2.309.328 đồng. Tổng cộng: 7.573.992 đồng.
  • - Đối với khoản vay ký hiệu số: 211251 – 6343 còn nợ: Tiền gốc: 5.885.000; Nợ lãi quá hạn: 1.653.435 đồng; Nợ lãi trong hạn: 3.306.870 đồng. Tổng cộng: 10.845.305 đồng.
  • - Đối với khoản vay ký hiệu số: 211251 – 1813 còn nợ: Tiền gốc: 3.580.000; Nợ lãi quá hạn: 1.005.865 đồng; Nợ lãi trong hạn: 2.011.730 đồng. Tổng cộng: 6.587.595 đồng.

Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án:

Buộc ông Hồ Tiến T1 phải thanh toán cho Ngân hàng S số tiền tạm tính đến ngày 24/2/2025 là: 30.693.171 đồng, trong đó: Nợ gốc: 17.577.124 đồng; Nợ lãi trong hạn: 8.744.031 đồng; Nợ lãi quá hạn: 4.372.016 đồng.

Đề nghị Tòa án tiếp tục tính lãi, lãi quá hạn kể từ ngày 25/02/2024 cho đến khi ông Hồ Tiến T1 thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Tiến T1 không có ý kiến trình bày gửi đến Tòa án.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Liên Chiểu phát biểu:

Về tố tụng: Thẩm phán đã thực hiện đúng nhiệm vụ và quyền hạn theo quy định tại Điều 48; đảm bảo đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án. Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các nguyên tắc xét xử, đảm bảo các bên đương sự được thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ, việc hỏi và tranh tụng tại phiên tòa được tiến hành khách quan, đúng trình tự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 và 234 Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn ông Hồ Tiến T1 vắng mặt lần hai, không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 280; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày xét xử, ngày 24/02/2025 với số tiền 30.693.171 đồng, trong đó: Nợ gốc: 17.577.124 đồng; Nợ lãi trong hạn: 8.744.031 đồng; Nợ lãi quá hạn: 4.372.016 đồng và tiếp tục trả lãi đối với khoản tiền gốc từ ngày 25/02/2025 cho đến khi trả dứt điểm nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản đã ký.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, qua lời trình bày của nguyên đơn có tại hồ sơ, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, bị đơn ông Hồ Tiến T1 đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nhưng vẫn vắng mặt, không có lý do. Áp dụng khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Hồ Tiến T4

Về quan hệ pháp luật: Ông Hồ Tiến T1 được Ngân hàng cấp thẻ tín dụng quốc tế trên cơ sở yêu cầu của ông T về việc sử dụng thẻ tín dụng không dùng tiền mặt. Do đó, quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản không dùng tiền mặt”.

[2] Về nội dung: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng S1 cấp có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:

Ngày 23/10/2019, ông Hồ Tiến T1 có ký với Ngân hàng S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông Hồ Tiến T2 hàng S đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.0000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Hồ Tiến T3 thực hiện 43 giao dịch với tổng số tiền là 176.352.753 đồng. Ngoài ra trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông Hồ Tiến T3 đăng tải vào phần mềm (Oppo) thực hiện 03 lần vay tiền trực tuyến, mỗi lần vay 20.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện cam kết ông Hồ Tiến T3 không thực hiện nghĩa vụ trả gốc, lãi phát sinh như đã cam kết. Hội đồng xét xử xét thấy các bên đã tự nguyện ký kết hợp đồng với nội dung không trái các quy định của pháp luật nên công nhận hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản giữa Ngân hàng S và ông Hồ Tiến T1 là hợp pháp.

Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng chuyển sang nợ quá hạn, ông T không thực hiện việc thanh toán lãi và vốn theo cam kết cho Ngân hàng S. Vì vậy, ông T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký kết và các khoản vay tín dụng phát sinh là phù hợp với quy định tại các Điều 280; Điều 463 và Điều 466 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 100 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 9 Nghị định 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt nên cần được chấp nhận, buộc ông Hồ Tiến T1 phải thanh toán toàn bộ số tiền: 30.693.171 đồng, trong đó: Nợ gốc: 17.577.124 đồng; Nợ lãi trong hạn: 8.744.031 đồng; Nợ lãi quá hạn: 4.372.016 đồng.

Lãi được tiếp tục tính từ ngày 25 tháng 02 năm 2024 theo mức lãi suất do Ngân hàng S và ông Hồ Tiến T1 đã thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S2 số tiền nợ gốc chưa thanh toán cho đến khi thi hành án xong.

[3] Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 30.693.171 đồng X 5% = 1.534.658 đồng theo quy định tại khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điều 92, khoản 2 Điều 227, các điều 235 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào: Điều 280 Bộ luật Dân sự; Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng;

Căn cứ vào: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần S đối với ông Hồ Tiến T5 việc “Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản không dùng tiền mặt”.
  2. Xử: Buộc ông Hồ Tiến T1 phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần S số tiền tổng cộng là: 30.693.171 đồng, trong đó: Nợ gốc: 17.577.124 đồng; Nợ lãi trong hạn: 8.744.031 đồng; Nợ lãi quá hạn: 4.372.016 đồng.
  3. Lãi được tiếp tục tính từ ngày 25/02/2025, ông Hồ Tiến T1 còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. Trường hợp trong hợp đồng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay, thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  4. Án phí dân sự sơ thẩm là đồng ông Hồ Tiến T1 phải chịu số tiền là: 1.534.658 đồng.
  5. Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí: 643.477 đồng đã nộp tại biên lai thu số 0009062 ngày 13 tháng 11 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng.

  6. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
  7. Thi hành án: Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 02 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND Q.Liên Chiểu;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thanh Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/DS-ST ngày 24/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản không dùng tiền mặt

  • Số bản án: 11/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản không dùng tiền mặt
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/02/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LIÊN CHIỂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 23/10/2019, ông Hồ Tiến T có ký với Ngân hàng S hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng. Căn cứ thu nhập của ông Hồ Tiến T Ngân hàng S đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức 20.000.0000 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ ông Hồ Tiến T đã thực hiện 43 giao dịch với tổng số tiền là 176.352.753 đồng. Ngoài ra trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng ông Hồ Tiến T đã đăng tải vào phần mềm (Oppo) thực hiện 03 lần vay tiền, mỗi lần vay 20.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện cam kết ông Hồ Tiến T đã không thực hiện nghĩa vụ trả gốc, lãi hàng tháng như đã cam kết. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm ông Hồ Tiến T đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc lãi.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger