trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
  • search Thủ tục cấp đổi hộ chiếu online
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Điều kiện hưởng lương hưu mới nhất 2026
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH MIỆN

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 11/2025/HS-ST

Ngày: 26-3-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Lý

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Chuyền

Ông Đào Đình Phúc

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Phạm Sỹ Phượng – Kiểm sát viên

Ngày 26 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2025/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2025/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Tá H; Sinh ngày: 14/4/1974; Nơi sinh: Hải Dương

Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương

Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 8/12

Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam

Con ông: Nguyễn Tá N, sinh năm: 1942 (đã chết)

Con bà: Nguyễn Thị K, sinh năm: 1942

Vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm: 1978;

Có 03 con, lớn sinh năm: 1998, con nhỏ sinh năm: 2012

Tiền án, tiền sự: Không

Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Bị hại: Bà Trịnh Thị C (đã chết)

Người đại diện của bị hại:

  1. Anh Hoàng Trung K1, sinh năm: 1974
  2. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Có mặt

  3. Chị Hoàng Thị N2, sinh năm: 1976
  4. Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt

  5. Chị Hoàng Thị L, sinh năm: 1978
  6. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt

  7. Chị Hoàng Thị T, sinh năm: 1980
  8. Nơi cư trú: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt

Người đại diện theo ủy quyền của chị Hoàng Thị N2, chị Hoàng Thị L, chị Hoàng Thị T: Anh Hoàng Trung K1, có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Công ty cổ phần X

Người đại diện theo pháp luật: Ông Bùi Danh B – Giám đốc

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tuấn A – Trưởng ban pháp chế và xử lý công nợ.

(Giấy ủy quyền số 24/TATMPH/2025, ngày 21/3/2025 của Công ty cổ phần X).

Địa chỉ: số A T, khu đô thị E, khu A, phường H, thành phố H, tỉnh Hải Dương. Vắng mặt

- Người làm chứng:

  1. Anh Mai Văn P, sinh năm: 1993. Vắng mặt
  2. Anh Nguyễn Văn T1, sinh năm: 1979. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Nguyễn Tá H có giấy phép lái xe hạng A1/FC theo quy định. Khoảng 05 giờ ngày 19/12/2024, H điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 34F- 005.59, kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 34R- 039.79 đến bãi đá L, tỉnh Hà Nam chở bây (đá lẫn với đất) về cụm C thuộc thôn Đ, xã Đ, huyện T. Khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô, kéo theo sơ mi rơ moóc về đến khu vực ngã tư cống B thuộc xã Đ, huyện T rẽ trái đi trên đường C hướng xã H, huyện T với tốc độ khoảng 35 đến 40 km/h. Khi cách đường mở vào khu công nghiệp khoảng 30 mét, H bật xi nhan phải báo hướng rẽ vào khu công nghiệp, giảm tốc độ, đến đoạn Km 11+ 800 có lối mở vào khu công nghiệp rộng 50 mét, nằm trên cống dẫn nước, giữa cống là 01 gờ giảm tốc rộng 0,9 mét, điểm cao nhất của gờ là 0,07 mét, xoải đều về hai bên. Đến lối mở, bị cáo đánh lái rẽ phải vào cụm công nghiệp Đoàn Tùng 2 nhưng do không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên đã va chạm vào xe đạp do bà Trịnh Thị C đi phía trước cùng chiều bên phải, làm bà C và xe đạp đổ xuống đường, xe ô tô chèn lên phần bên trái xe đạp và chèn lên người bà C. Hậu quả: Bà C tử vong tại hiện trường.

Tại Kết luận giám định tử thi số 415/KLGĐTT-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân bà C tử vong: Do đa chấn thương, vết thương (chấn thương sọ não hở; vết thương tầng sinh môn thông khoang bụng).

Kiểm tra nồng độ cồn trong khí thở của Nguyễn Tá H là: 0.000mg/l. Xét nghiệm nồng độ Ethanol (cồn) trong máu là: 0,2mg/dL (Trị số bình thường là từ 0-8.1mg/dL), xét nghiệm chất ma tuý là: Âm tính.

Trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo H và công ty cổ phần X đã tự nguyện bồi thường cho đại diện gia đình bà C là 190.000.000 đồng. Đại diện gia đình bà C không yêu cầu bồi thường thêm khoản thiệt hại nào khác.

Vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra thu giữ và đã xử lý trả lại vật chứng là xe ô tô đầu kéo BKS 34F- 005.59 kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 34R- 039.79 cho Công ty cổ phần X, trả lại xe đạp cho đại diện gia đình bà C; đối với 01 Giấy phép lái xe số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 03/8/2023 cho Nguyễn Tá H hiện đang lưu trong hồ sơ vụ án.

Tại bản Cáo trạng số 14/CT-VKS, ngày 05/3/2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Miện truy tố bị cáo Nguyễn Tá H về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo không thắc mắc, khiếu nại bản cáo trạng, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân huyện T giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị: tuyên bố bị cáo Nguyễn Tá H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”; đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo từ 12 tháng đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về hình phạt bổ sung: áp dụng khoản 5 Điều 260, Điều 41 Bộ luật Hình sự, cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô, thời hạn cấm là 01 năm kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Buộc bị cáo nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi của bị cáo:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 19/12/2024, bị cáo điều khiển xe ô tô đầu kéo BKS 34F- 005.59, kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 34R- 039.79 đi trên đường C hướng xã Đ đi xã H (huyện T, tỉnh Hải Dương). Khi đến Km 11+ 800 đường C, chuyển hướng vào cụm C, bị cáo có bật xi nhan báo chuyển hướng, giảm tốc độ nhưng không chú ý quan sát nên chuyển hướng không đảm bảo an toàn dẫn đến xe ô tô đầu kéo kéo theo sơ mi rơ moóc va chạm với xe đạp do bà Trương Thị C1 điều khiển phía trước cùng chiều bên phải, làm bà C1 và xe đạp đổ xuống đường, xe ô tô chèn lên phần bên trái xe đạp và chèn lên người bà C1. Hậu quả: Bà C1 tử vong tại hiện trường.

Tại Kết luận giám định tử thi số 415/KLGĐTT-KTHS ngày 26/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh H kết luận nguyên nhân bà C1 tử vong: Do đa chấn thương, vết thương (chấn thương sọ não hở; vết thương tầng sinh môn thông khoang bụng).

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với Biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám xét phương tiện, kết luận giám định tử thi và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Xét, bị cáo có Giấy phép lái xe hạng FC nên được điều khiển ô tô đầu kéo kéo sơmi rơmoóc theo quy định. Bị cáo nhận thức được khi tham gia giao thông phải chấp hành nghiêm các quy định về an toàn giao thông đường bộ, nhưng khi bị cáo điều khiển ô tô đầu kéo đã chuyển hướng mà không chú ý quan sát nên đã gây ra tai nạn khiến bị hại tử vong. Hành vi nêu trên của bị cáo đã vi phạm khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ: “2. Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác”.

Sự việc xảy ra do lỗi hoàn toàn thuộc về bị cáo. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm trực tiếp đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ mà còn xâm phạm đến tính mạng của người bị hại.

Khi xảy ra tai nạn, bị cáo H không phát hiện va chạm nên tiếp tục điều khiển xe ô tô đi vào bên trong cụm công nghiệp khoảng 500 mét đổ bây. Khi đang điều khiển cho xe đổ bây, anh Nguyễn Văn T1 là lái xe cùng Công ty đi sau xe bị cáo, liên lạc qua ứng dụng Zalo, hỏi bị cáo về việc liên quan đến tai nạn giao thông. Bị cáo H xuống xe kiểm tra, phát hiện có nhiều vết máu, vết mô màu nâu đỏ còn bám dính trên bánh xe nên mới biết xe ô tô do mình điều khiển đã gây ra tai nạn. Bị cáo dừng xe tại vị trí đổ bây, gọi điện báo cho công ty về sự việc, khi Cơ quan điều tra đến khám nghiệm hiện trường, bị cáo ra làm việc, khai báo về việc điều khiển xe ô tô gây tai nạn. Như vậy, không có việc bị cáo H bỏ chạy để trốn tránh trách nhiệm hoặc cố ý không cứu giúp người bị nạn.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Tá H phạm tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo tự nguyện và tác động Công ty bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 190.000.000đ, được người đại diện hợp pháp của bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo không thuộc trường hợp bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4]. Quyết định hình phạt:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên, bị cáo phạm tội với lỗi vô ý. Xét, bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Điều 51 Bộ luật Hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, được người đại diện của bị hại có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự, sau khi phạm tội bị cáo ăn năn hối cải nên thấy rằng có khả năng tự cải tạo dưới sự giám sát của gia đình, chính quyền địa phương và việc bị cáo tự cải tạo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo hình phạt tù cho hưởng án treo cũng đủ răn đe và giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: do bị cáo đang hành nghề lái xe ô tô, Hội đồng xét xử căn cứ vào mức độ lỗi của bị cáo, áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô trong một thời hạn nhất định để tránh gây nguy hại cho xã hội.

[5]. Về trách nhiệm dân sự: bị cáo và Công ty cổ phần X đã bồi thường 190.000.000đ cho đại diện người bị hại, đại diện người bị hại không yêu cầu bồi thường thêm nên không xem xét.

[6]. Về vật chứng: Quá trình điều tra xác định xe ô tô đầu kéo BKS 34F- 005.59, kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 34R- 039.79, thuộc sở hữu của Công ty cổ phần X, xe đạp thuộc sở hữu của bị hại Trịnh Thị C nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả xe ô tô đầu kéo BKS 34F- 005.59, kéo theo sơ mi rơ moóc BKS 34R- 039.79 cho Công ty cổ phần X, trả lại xe đạp cho đại diện gia đình bà C là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với 01 Giấy phép lái xe số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 03/8/2023 cho Nguyễn Tá H, còn thời hạn đến ngày 03/8/2028, do bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ sung nên tiếp tục quản lý tại hồ sơ. Sau khi chấp hành xong hình phạt bổ sung, bị cáo liên hệ với Tòa án nhân dân huyện Thanh Miện làm thủ tục nhận lại. Do giấy phép lái xe của bị cáo tích hợp cả giấy phép lái xe mô tô, xe máy nên bị cáo tự nguyện sẽ chịu trách nhiệm làm thủ tục để cấp lại giấy phép lái xe mô tô, xe máy tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền là phù hợp.

[7]. Về án phí: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng điểm a khoản 1, 5 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng Điều 331, 332, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Áp dụng Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự, Nghị Quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tá H phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tá H 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (26/3/2025).

Giao bị cáo Nguyễn Tá H cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục và gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp cùng chính quyền địa phương theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của Luật Thi hành án hình sự thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Cấm bị cáo hành nghề lái xe ô tô, thời hạn cấm là 01 (một) năm kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn C2 đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Nguyễn Tá H.

3. Về vật chứng: Tiếp tục quản lý 01 Giấy phép lái xe số [...] do Sở giao thông vận tải tỉnh H cấp ngày 03/8/2023 cho Nguyễn Tá H đang lưu trong hồ sơ vụ án.

4. Về án phí: buộc bị cáo Nguyễn Tá H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - VKSND huyện Thanh Miện;
  • - CQTHAHS Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Phòng HSNV Công an tỉnh Hải Dương
  • - Chi cục THADS huyện Thanh Miện;
  • - Bị cáo;
  • - Đại diện bị hại;
  • - Người có QLNV liên quan;
  • - Lưu AV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hương Lý

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 26/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 11/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH MIỆN, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo 01 năm 02 tháng tù cho hưởng án treo, thử thách 02 năm 04 tháng. Cấm hành nghề lái xe ô tô 01 năm.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger