|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 11/2025/HS-ST Ngày 25-3-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tôn.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Danh Út Nhỏ.
- Bà Vũ Thị Đào.
Thư ký phiên tòa: Ông Thái Vũ Đức, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2025/TLST-HS ngày 26 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2025/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2025 đối với bị cáo:
Bị cáo: Danh Minh H, sinh ngày 16/11/2006, nơi sinh: G - Kiên Giang. Nơi cư trú: ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang; CCCD số: [...]; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh H1 và bà Nguyễn Thị Ú, bị cáo chưa có vợ con; anh chị em ruột có 02 người, lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất là bị cáo. Tiền án: Không, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 290 ngày 07/10/2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, có mặt.
Người giám hộ cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1972. Nơi cư trú: ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có mặt
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Trường T, là Trợ giúp viên pháp lý cộng tác, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố C. Nơi cư trú: số H, N, phường A, Thành phố R, tỉnh Kiên Giang. Có mặt
Bị hại: Anh Danh Tuấn T1, sinh năm 1987. Nơi cư trú: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
Người làm chứng:
- Anh Nguyễn Hiếu L, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Khu phố P, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Có đơn xin vắng mặt
- Anh Trần Hoàng D, sinh năm 1998. Nơi cư trú: ấp A, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang. Vắng mặt không lý do
- anh Nguyễn Văn N, sinh năm 1970. Nơi cư trú: Số F, Trần Tuấn K, phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. Có đơn xin vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng tháng 02/2024 Danh Minh H đặt mua trên mạng một bộ đồ trang phục Công an nhân dân, loại trang phục cảnh sát, với cấp hàm trung úy với giá tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) về mặt với mục đích ra oai, bắt đầu từ đây Danh Minh H thường xuyên mặc trang phục công an đến bến xe huyện G - khu vực nhà chờ của nhà xe T2 Nguyễn thuộc thị trấn G, huyện G và quen biết với một số lái xe ở đây, có một số người hỏi làm gì, H trả lời “Trước đó làm ở phòng Cảnh sát Giao thông tỉnh K, hiện tại làm Cảnh sát Hình sự tỉnh Kiên Giang, công an chìm”, khoảng đầu tháng 03/2024 H quen biết với Danh T3 T1 là tài xế cho nhà xe Toàn N1, trong thời gian này qua tiếp xúc nói chuyện, T1 hỏi H làm ở đâu, H trả lời "Trước đó em có làm ở phòng Cảnh sát giao thông tỉnh K, hiện tại là cảnh sát hình sự tỉnh Kiên Giang", trong quá trình gặp anh T1, H mặc quần cảnh sát và mặc áo thường. Đầu tháng 04/2024, anh T1 nhờ H làm giấy tờ sang tên giấy đăng ký xe mô tô, xe máy Biển kiểm soát 83FA – 7698 mang tên Trần Ngọc T4 có địa chỉ Ấp N, xã S, tỉnh Sóc Trăng sang tên cho anh D1 Tuấn T1, H đồng ý và ra giá 4.000.000đ (Bốn triệu đồng), anh T1 đồng ý và đưa giấy tờ xe cho H giữ. Do H đã có biển số xe 68HA – 055.67, lấy từ kho Công an xã Đ, huyện G vào khoảng cuối tháng 01/2024, chỉ cần tìm cách làm giấy đăng ký xe mô tô, xe máy nữa là xong. Khoảng một tuần sau H điện thoại thông qua mạng xã hội Z kêu anh T1 chuyển khoản số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng), thông qua sổ tài khoản Ngân hàng Q, viết tắt là MB, do Danh Minh H đứng tên, đến chiều tối cùng ngày H nhận được số tiền trên, H sử dụng số tiền này vào tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 01 tuần sau H gặp anh T1 tại bến xe G và nhận tiền trực tiếp thêm 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) tiêu xài cá nhân hết. Khoảng tháng 04/2024 Danh Minh H đến Công an xã Đ, huyện G, H vào phòng đăng ký xe, lúc này không có ai trong phòng, thấy một phôi giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy chưa có điền thông tin trên đó (phôi mới), để ở trên bàn ở tỉnh chờ đăng ký xe, H mở hộp tủ bàn và tìm thì thấy có một con dấu tròn nhỏ, sau đó lấy dấu đóng lên mặt sau của phôi giấy trên, chỗ đóng dấu và chữ ký, có tính đóng 02 lần đè che đi chữ Công an xã Đ, sau khi đóng xong H để con dấu lại và bỏ phôi giấy vào túi quần rồi chạy về về thị trấn G, H lên mạng tìm một giấy đăng ký xe đã có thông tin sẵn, tải về điện thoại di động và chỉnh sửa theo thông tin Danh Tuấn T1, địa chỉ: H Mỹ, Đ, G, biển số đăng ký: 68HA – 055.67 và một số thông tin khác, khoảng 02 ngày sau H đến tiệm P2 thuộc khu phố P, thị trấn G, H mượn máy tính chỉnh sửa độ với khung giấy đăng ký xe mô tô, xe máy, sau khi xong, H kêu chủ tiệm in ra và có được giấy đăng ký xe mô tô, xe máy với thông tin Danh Tuấn T1, địa chỉ: H Mỹ, Đ, G, biển số đăng ký: 68HA – 055.67, H đem giấy về chỗ ở thuộc khu phố P thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang. H lấy giấy không bao đăng ký dính danh dự Trưởng Công an xã Đ, anh Danh P đã ký (trước đây H tải trên mạng về), H mới đổ chữ ký của anh D1 P lên phôi giấy, khoảng 01 giờ khi xong. Ngày 16/5/2024 H kêu anh T1 chuyển thêm số tiền 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) dùng để trả tiền biển số xe và giấy chứng nhận đăng ký xe, anh T1 đồng ý và nhờ anh Nguyễn Văn N (chủ xe của anh T1) chuyển tiền vào tài khoản của Danh Minh H, số tiền này H tiêu xài cá nhân hết, đến ngày 17/5/2024 H đem biển số xe 68HA – 055.67 gắn vào chiếc xe môtô của anh T1, lấy lại biển số 83FA – 7698, H đưa giấy đăng ký xe cho anh T1 nhưng anh T1 không nhận vì cho rằng chữ ký của ông Danh P không đúng, H cất giữ giấy đăng ký xe lại. Đến ngày 28/5/2024 anh T1 trực tiếp đưa thêm 1.000.000đ, để đủ số tiền như hứa hẹn để Danh Minh H làm giấy tờ xe, nhưng lần này H vẫn chưa đưa giấy tờ cho bị hại. Tổng số tiền Danh Minh H đã nhận của anh T1 là 4.000.000đ và đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 31/5/2024 Công an thị trấn G nhận được tin báo người dân có đối tượng giả danh Công an nên tiến hành xác minh và kiểm tra chỗ ở của Danh Minh H, thu giữ nhiều tài liệu có liên quan, vụ việc được chuyển hồ sơ lên Cơ quan điều tra theo quy định pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 982 ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:
- Biển số xe mô tô 68HA – 055.67 trên mẫu cần giám định ký hiệu A là thật.
Tại bản kết luận giám định số 1003 ngày 24 tháng 9 năm 2024 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:
- Con dấu màu đỏ kiểu dấu hộp mặt cao su, mặt dấu hình chữ nhật có nội dung "PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG - CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG" (ký hiệu A1), do không có mẫu so sánh nên không tiến hành giám định.
- Giấy “CHỨNG NHẬN ĐĂNG KÝ XE MÔ TÔ, XE GẮN MÁY" số: 68 002224, ghi tên chủ xe: D2; Địa chỉ: H Mỹ, Đ, G, Nhãn hiệu: Lắp ráp, số loại: HONDA, số máy: 418006; số khung: 8015, Màu sơm: Đen: (Biển số đăng ký: 68НА – 055.67), cấp ngày: ngày 04/02/2024 (ký hiệu A2) là phối thật. Nội dung thông tin ở mặt sau bị tẩy xóa. Không xác định được nội dung trước khi bị tẩy xóa.
- Chữ ký mang tên Danh Phú trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 bị tô đồ.
- Chữ ký mang tên Danh Phú trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 không được tô đồ từ chữ ký mang tên Danh P trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 và M4.
- Không đủ cơ sở kết luận hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: CÔNG AN XÃ....- CÔNG AN HUYỆN GÒ QUAO – T. KIÊN GIANG” trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung “CÔNG AN XÃ ĐỊNH AN- CÔNG AN HUYỆN GÒ QUAO - T KIÊN GIANG” trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, và M4 có phải do cùng một con dấu đóng ra hay không.
- Chữ ký mang tên Danh P trên mẫu cần giám định ký hiệu A2 so với chữ ký mang tên Danh Phú trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 và M4 không phải do cùng một người ký ra.
- Chữ ký mang tên Danh Phú trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 và A4 so với chữ ký mang tên Danh Phú trên các mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 và M4, do chữ ký đã qua sao chụp nên không tiến hành giám định.
- Chữ ký mang tên Đinh Thanh P1 trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 so với chữ ký mang tên Đinh Thanh P1 trên mẫu so sánh ký hiệu M5, do chữ ký đã qua sao chụp nên không tiến hành giám định.
- Hình dấu tròn trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 và A4 so với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “CÔNG AN XÃ ĐỊNH HÒA - CÔNG AN HUYỆN GÒ QUAO - T. KIÊN GIANG” trên mẫu so sánh ký hiệu M1, M2 và M4, do hình dấu đã qua sao chụp nên không tiến hành giám định.
- Hình dấu tròn có nội dung: “PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG - CÔNG AN TỈNH SÓC TRĂNG" trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 so với hình dấu tròn mẫu đó có cùng nội dung trên mẫu so sánh ký hiệu M5 và M6, do hình dấu đã qua sao chụp nên không tiến hành giám định.
- Không đủ cơ sở kết luận “Giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe mã hồ sơ trực tuyến..", cùng đề ngày 04/02/2024 trên mẫu cần giám định ký hiệu A3 và A4 là thật hay giá.
- Không đủ cơ sở kết luận “Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả mã hồ sơ: A 0010853", để ngày 29/3/2024 trên mẫu cần giám định ký hiệu A5 là thật hay giả.
Vật chứng: Trong quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo các vật chứng gồm:
- 01 (một) gói niêm phong màu trắng có dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang, Công an huyện G, có chữ ký của Điều tra viên, người chứng kiến, Danh Minh H, bà Nguyễn Thị Ú và đóng dấu tròn giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G;
- 01 (một) bộ đồ cảnh sát màu xanh, có cấp bậc hàm trung úy màu đỏ vàng, có nút ngôi sao màu vàng.
Các vật chứng trên hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao.
Riêng đối với 01 (một) giấy đăng ký xe mô tô xe máy tên Nguyễn Ngọc T5 và biển số 83FA – 7698 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại cho anh Danh T3 Thông theo quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 769 ngày 30/12/2024. Số tiền 409.000₫ (Bốn trăm lẽ chín nghìn đồng) không liên quan đến việc phạm tội đã trả lại cho bị cáo Danh Minh H theo quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 768 ngày 30/12/2024.
Tại bản cáo trạng số 10/CT-VKSND-GQ ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang đã truy tố bị cáo Danh Minh H về các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 174 của Bộ luật Hình sự và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung Cáo trạng. Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường khắc phục hậu quả xong cho bị hại và bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ cho bị cáo nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Danh Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Danh Minh H mức án từ 05 tháng đến 06 tháng tù.
Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 54, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Danh Minh H mức án từ 18 đến 24 tháng tù. Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Danh Minh H phải chấp hành hình phạt chung theo quy định.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Danh T3 T1 yêu cầu bồi thường số tiền 4.000.000đồng (Bốn triệu đồng), bị cáo đã bồi thường xong nên không xem xét.
Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử tuyên tịch thu tiêu hủy gồm: 01 bộ đồ cảnh sát màu xanh, có cấp bậc hàm trung úy màu đỏ vàng, có nút ngôi sao màu vàng; 01 con dấu vuông, màu đỏ, trên con dấu có dòng chữ shiny Printer S – 844, C, PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, tình trạng: dòng chữ đã bị lem nhòe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 68002224, tên chủ xe: D2; địa chỉ: H Mỹ, Đ, G, nhãn hiệu: LẮP RÁP, số loại: HONDA, số máy: 418006; số khung: 8015; màu sơn: Đen; biển số đăng ký: 68HA - 055.67, ngày cấp: ngày 04 tháng 02 năm 2024, có chữ ký của Danh Phú trưởng Công an xã Định An và đóng dấu tròn; 01 giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả, mã hồ sơ: A 0010853; số 53 ngày 09/3/2024 của Công an tỉnh S, phòng CSGT, tiếp nhận hồ sơ của Danh Tuấn T1, số giấy tờ cá nhân: 091087022399, địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, trên góc phải mặt trước có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, phía sau có đóng dấu tròn photo của phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh Sóc Trăng, có chữ ký của Phó trưởng phòng thượng tá Đinh Thanh P1, phần bên trái có ghi chữ H; 02 giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe, biển số 83FA – 7698, màu biển: trắng, tên chủ xe: Danh T, địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, có chữ ký và đóng dấu tròn (màu đen) của trưởng Công an xã, thiếu tá D. Phía sau có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG; 01 (một) biển số xe 68HA – 055.67; 01 giấy chứng minh Công an nhân dân mang tên Nguyễn Minh Đ đội tuần tra xử lý, có huy hiệu Công an nhân dân, phía sau có dáng hình ảnh 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân; 01 giấy có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; CÔNG AN HUYỆN GÒ QUAO, NGUYỄN MINH Đ, TUẦN TRA XỬ LÝ: ĐỘI CSGT – ĐTHS, có đóng dấu tròn Công an huyện G, Công an xã Đ, phía sau có dáng hình ảnh 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân; 02 giấy có dòng chữ BỘ CÔNG AN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN; NGUYỄN MINH Đ BIÐTHS-LT28-T05. (01 giấy có đóng dấu đỏ đã bị nhòe); 05 tấm hình 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân. Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu realme, màu xanh ngọc bích, số IMEI 1: 860343041466734, số IMEI 2: 860343041466726, đã qua sử dụng. Tất cả vật chứng nêu trên nằm trong 01 (một) gói niêm phong màu trắng có dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang, Công an huyện G, có chữ ký của Điều tra viên, người chứng kiến, Danh Minh H, bà Nguyễn Thị Ú và đóng dấu tròn giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao.
Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo: Thống nhất với các tội danh Viện kiểm sát truy tố bị cáo theo điểm d khoản 2 Điều 341; khoản 1 Điều 174 và các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 và Điều 54 của Bộ luật hình sự. Về hình phạt đề nghị HĐXX xử phạt bị cáo ở mức thấp nhất với mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường dân sự xong cho bị hại và bị hại không yêu cầu gì thêm nên miễn xét.
Bị cáo thừa nhận hành vi của mình như Cáo trạng truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều phù hợp quy định pháp luật.
[2] Sự có mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại có đơn xin vắng mặt, những người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa nhưng trước đó đã có lời khai tại cơ quan điều tra, việc vắng mặt những người này không gây trở ngại cho việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.
[3] Tại phiên toà, bị cáo Danh Minh H khai nhận, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân; Đầu năm 2024 H đặt mua trên mạng bộ đồ trang phục Công an nhân dân với cấp hàm trung úy, sau đó H đến khu vực Bến xe G tự mạo danh Cảnh sát hình sự và đã từng làm Cảnh sát giao thông. Tháng 4 năm 2024 anh Danh T3 T1 có gặp và nhờ H làm thủ tục cấp đổi giấy đăng ký xe môtô biển số 83FA-7698 mang tên Trần Ngọc T4 sang tên anh T1. Do H đã có biển số xe 68HA-055.67 (lấy trộm ở Công an xã Đ trước đó); nên nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của anh T1; H ra giá với anh T1 là 4.000.000 đồng, được anh T1 đồng ý, H đến trụ sở Công an xã Đ trộm lấy một phôi giấy chứng nhận đăng ký xe môtô rồi về tự điền thông tin của anh T1 vào phôi giấy sau đó đưa anh T1 để chiếm đoạt 4.000.000 đồng của anh T1. Đến ngày 31/5/2024 Công an thị trấn G nhận được tin báo có đối tượng giả danh công an, qua xác minh, kiểm tra chỗ ở phát hiện H cùng tang vật chứng.
[4] Xét lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, người làm chứng; phù hợp với nội dung bản cáo trạng số 10/CT-VKSND-GQ, ngày 25/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định bị cáo Danh Minh H tự mạo danh Cảnh sát hình sự và đã từng làm Cảnh sát giao thông để tạo lòng tin cho người dân, sau khi được anh Danh T3 T1 nhờ bị cáo làm thủ tục cấp đổi giấy đăng ký xe môtô biển số 83FA-7698 mang tên Trần Ngọc T4 sang tên anh T1, dù biết mình không làm được nhưng bị cáo vẫn nhận lời, sau đó bị cáo đến Công an xã Đ lấy trộm 01 phôi giấy chứng nhận đăng ký xe môtô rồi tự điền thông tin của anh T1 vào phôi giấy sau đó đưa anh T1 nhằm chiếm đoạt của anh Thông số tiền 4.000.000đồng nên hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Do đó Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
Tội phạm và hình phạt được quy định như sau:
“Điều 174. Tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
- Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;
- Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;
- Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
- Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ...
Điều 341. Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức.
1. Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm:
- Có tổ chức;
- Phạm tội 02 lần trở lên;
- Làm từ 02 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác;
- Sử dụng con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng;
- Thu lợi bất chính từ 10.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng;
- Tái phạm nguy hiểm...."
[5] Tính chất mức độ phạm tội của bị cáo: Bị cáo Danh Minh H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có trình độ nhất định để nhận thức được quyền tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm nhưng với bản chất lười lao động muốn có tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân, bị cáo bất chấp pháp luật, bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an tại địa phương, gây hoang mang cho quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội; cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo học tập, cải tạo trở thành người công dân có ích và phòng ngừa chung.
[6] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tài liệu lý lịch thể hiện bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục xong hậu quả cho bị hại và bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; tại thời điểm thực hiện tội phạm bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên Hội đồng xét xử cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật hình sự khi lượng hình đối với bị cáo.
[7] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, người bào chữa là phù hợp.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh D1 Tuấn T1 yêu cầu bị cáo phải bồi thường số tiền 4.000.000đồng, bị cáo đã bồi thường xong nên miễn xét.
[9] Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: 01 bộ đồ cảnh sát màu xanh, có cấp bậc hàm trung úy màu đỏ vàng, có nút ngôi sao màu vàng; 01 con dấu vuông, màu đỏ, trên con dấu có dòng chữ shiny Printer S – 844, C, PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, tình trạng: dòng chữ đã bị lem nhòe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 68002224, tên chủ xe: D2; địa chỉ: H Mỹ, Đ, G, nhãn hiệu: LẮP RÁP, số loại: HONDA, số máy: 418006; số khung: 8015; màu sơn: Đen; biển số đăng ký: 68HA - 055.67, ngày cấp: ngày 04 tháng 02 năm 2024, có chữ ký của Danh Phú trưởng Công an xã Đ và đóng dấu tròn; 01 giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả, mã hồ sơ: A 0010853; số 53 ngày 09/3/2024 của Công an tỉnh Sóc Trăng, phòng CSGT, tiếp nhận hồ sơ của Danh Tuấn T1, số giấy tờ cá nhân: 091087022399, địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, trên góc phải mặt trước có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, phía sau có đóng dấu tròn photo của phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh S, có chữ ký của Phó trưởng phòng thượng tá Đinh Thanh P1, phần bên trái có ghi chữ H; 02 giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe, biển số 83FA – 7698, màu biển: trắng, tên chủ xe: Danh T, địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, có chữ ký và đóng dấu tròn (màu đen) của trưởng Công an xã, thiếu tá D. Phía sau có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG; 01 (một) biển số xe 68HA – 055.67; 01 giấy chứng minh Công an nhân dân mang tên Nguyễn Minh Đ đội tuần tra xử lý, có huy hiệu Công an nhân dân, phía sau có dáng hình ảnh 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân; 01 giấy có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; CÔNG AN HUYỆN GÒ QUAO, NGUYỄN MINH Đ, TUẦN TRA XỬ LÝ: ĐỘI CSGT – ĐTHS, có đóng dấu tròn Công an huyện G, Công an xã Đ, phía sau có dáng hình ảnh 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân; 02 giấy có dòng chữ BỘ CÔNG AN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN; NGUYỄN MINH Đ BIÐTHS-LT28-T05. (01 giấy có đóng dấu đỏ đã bị nhòe); 05 tấm hình 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân, là các tài liệu, đồ vật bị cáo dùng việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
01 điện thoại di động nhãn hiệu realme, màu xanh ngọc bích, số IMEI 1: 860343041466734, số IMEI 2: 860343041466726 (đã qua sử dụng) là phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[10] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm d khoản 2 Điều 341; khoản 1 Điều 174; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 91, Điều 101 và Điều 54 của Bộ luật hình sự;
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Danh Minh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Danh Minh H 05 (năm) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 18 (mười tám) tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Danh Minh H phải chấp hành hình phạt chung là 23 (hai mươi ba) tháng tù. Thời điểm chấp hành án tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Miễn xét.
Biện pháp tư pháp, xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy gồm: 01 bộ đồ cảnh sát màu xanh, có cấp bậc hàm trung úy màu đỏ vàng, có nút ngôi sao màu vàng; 01 con dấu vuông, màu đỏ, trên con dấu có dòng chữ shiny Printer S – 844, C, PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, tình trạng: dòng chữ đã bị lem nhòe; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 68002224, tên chủ xe: D2; địa chỉ: H Mỹ, Đ, G, nhãn hiệu: LẮP RÁP, số loại: HONDA, số máy: 418006; số khung: 8015; màu sơn: Đen; biển số đăng ký: 68HA - 055.67, ngày cấp: ngày 04 tháng 02 năm 2024, có chữ ký của Danh Phú trưởng Công an xã Đ và đóng dấu tròn; 01 giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả, mã hồ sơ: A 0010853; số 53 ngày 09/3/2024 của Công an tỉnh S, phòng CSGT, tiếp nhận hồ sơ của Danh Tuấn T1, số giấy tờ cá nhân: 091087022399, địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, trên góc phải mặt trước có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, phía sau có đóng dấu tròn photo của phòng Cảnh sát giao thông công an tỉnh S, có chữ ký của Phó trưởng phòng thượng tá Đinh Thanh P1, phần bên trái có ghi chữ H; 02 giấy khai thu hồi đăng ký, biển số xe, biển số 83FA – 7698, màu biển: trắng, tên chủ xe: Danh T, địa chỉ: ấp H, xã Đ, huyện G, tỉnh Kiên Giang, có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG, có chữ ký và đóng dấu tròn (màu đen) của trưởng Công an xã, thiếu tá D. Phía sau có đóng dấu vuông CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; PHÒNG CẢNH SÁT GIAO THÔNG; 01 (một) biển số xe 68HA – 055.67; 01 giấy chứng minh Công an nhân dân mang tên Nguyễn Minh Đ đội tuần tra xử lý, có huy hiệu Công an nhân dân, phía sau có dáng hình ảnh 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân; 01 giấy có dòng chữ CÔNG AN TỈNH KIÊN GIANG; CÔNG AN HUYỆN GÒ QUAO, NGUYỄN MINH Đ, TUẦN TRA XỬ LÝ: ĐỘI CSGT – ĐTHS, có đóng dấu tròn Công an huyện G, Công an xã Đ, phía sau có dáng hình ảnh 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân; 02 giấy có dòng chữ BỘ CÔNG AN TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẢNH SÁT NHÂN DÂN; NGUYỄN MINH Đ BIÐTHS-LT28-T05. (01 giấy có đóng dấu đỏ đã bị nhòe); 05 tấm hình 3x4 của Danh Minh H đang mặc trang phục Công an nhân dân. Các vật chứng nêu trên nằm trong 01 (một) gói niêm phong màu trắng có dòng chữ Công an tỉnh K, Công an huyện G, có chữ ký của Điều tra viên, người chứng kiến, Danh Minh H, bà Nguyễn Thị Ú và đóng dấu tròn giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G.
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu realme, màu xanh ngọc bích, số IMEI 1: 860343041466734, số IMEI 2: 860343041466726, đã qua sử dụng (được niêm phong trong 01 gói niêm phong màu trắng có dòng chữ Công an tỉnh Kiên Giang, Công an huyện G, có chữ ký của Điều tra viên, người chứng kiến, Danh Minh H, bà Nguyễn Thị Ú và đóng dấu tròn giáp lai của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Gò Quao).
Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Buộc bị cáo Danh Minh H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng).
Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo, người giám hộ cho bị cáo, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Tôn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Các Hội thẩm nhân dân |
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
Bản án số 11/2025/HS-ST ngày 25/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 11/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO - TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh Minh H phạm tội lừa đảo và Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
